ViNaLaw
Phone:
LIÊN HỆ
Planets Forum WORLD Hop Dong Van Ban Xu PhAT Thue ca nhan

 

Một số ý kiến góp ý cho dự thảo nghị định hướng dẫn về TMĐT

MỘT SỐ Ý KIẾN GÓP Ý CHO DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG DẪN

VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Th.s Ls Phan Thông Anh - Ủy viên Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam - Trọng tài viên Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam - Giám đốc công ty Luật hợp danh Việt Nam 

 

 

          Trước tiên cho chúng tôi bày tỏ sự đồng tình đối với Ban soạn thảo Nghị định về thương mại điện tử nhắm hướng dẫn thực hiện hoạt động ứng dụng thương mại điện tử đã được quy định trong (i) - Luật cạnh tranh ngày 3/12/2004; (ii) - Luật Thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005; (iii) - Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005.(iv)- Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006- (v)Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 17 tháng 11 năm 2010 tuy có chậm so với yêu cầu đòi hỏi thực tế để thực hiện các Luật trên.

Về bố cục của Dự thảo Nghị định cấu tạo gồm 81 Điều, 7 Chương với Chương 1 “Những quy định chung” gồm 7 điều (từ Điều 1 đến Điều 7):  Chương 2 “Giao kết hợp đồng trong thương mại điện tử” gồm 15 điều (từ Điều 8 đến Điều 22), - Chương 3 “Hoạt động thương mại điện tử” gồm 29 điều (từ Điều 23 đến Điều 51);  Chương 4 “Quản lý hoạt động thương mại điện tử” bao gồm 15 điều (từ Điều 52 đến Điều 66) - Chương 5 “An toàn an ninh trong giao dịch thương mại điện tử” bao gồm 8 điều (từ Điều 67 đến Điều 74) ; Chương 6 “Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm” bao gồm 5 điều (từ Điều 75 đến Điều 79); Chương 7: Điều khoản thi hành gồm 3 Điều (Điều 80 và Điều 81)

Chúng tôi cho rằng đã khá hợp lý nhưng về nội dung chi tiết cần góp ý bổ sung một số nội dung như sau :

 

1-Về đối tượng áp dụng của nghị định.

          Thống nhất quan điểm với Ban soạn thảo về nội dung ở Khoản 1 Điều 2, vì đối tượng áp dụng đã cơ bản đã tương thích với pháp luật thương mại Việt Nam. Tuy nhiên, ở Khoản 2 điều 2  thì chưa phù hợp. Bởi lẽ dưới Nghị định này có thể sẽ có thông tư hướng dẫn của các Bộ ngành liên quan, bên cạnh Nghị định này có thể sẽ có Nghị định khác tham chiếu đến một vài nội dung vì Nghị định này hướng dẫn cùng thực hiện cho nhiều Luật. Do đó, nếu quy định nghị định này áp dụng với thương nhân, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại điện tử ngoài lãnh thổ Việt Nam được áp dụng các quy phạm nội dung trong nghị định sẽ gây ra bó hẹp thâm chí không phù hợp. Vì vậy, theo chúng tôi cần quy định lại khoản 2 Điều 2: như sau: “Các thương nhân, cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động thương mại điện tử ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng pháp luật Việt Nam”.


2-Việc xác định khái niệm thương mại điện tử?

          Sự ra đời của thương mại điện tử trên thế giới đã manh nha từ những thập niên 70 của thế kỷ trước, đặc biệt là ở Hoa Kỳ và Châu Âu, và phát triển nhanh chóng khi phát minh worlwideweb (www) ra đời. Thuật ngữ “e-commerce” – Thương mại điện tử được con người tiếp cận từ năm 2000 đến nay như là một phương thức trao đổi các loại hàng hóa qua Internet, dùng các giao thức bảo mật và dịch vụ thanh toán điện tử.

          Khái niệm Thương mại điện tử hiện nay được các tổ chức trên thế giới tiếp cận cũng khác nhau như :

          Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet"

          Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) thì định nghĩa: "Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet." 

          Các kỹ thuật thông tin liên lạc có thể là emailEDIInternet và Extranet có thể được dùng để hỗ trợ thương mại điện tử.

  • Theo Ủy ban Châu Âu: "Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công."

          Từ các khái niệm trên có thể cho thấy : thương mại điện tử chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử. Ngoài ra, theo nghiên cứu tại đại học Texas, các học giả cho rằng thương mại điện tử và kinh doanh điện tử đều bị bao hàm bởi nền kinh tế Internet (Internet economy).

          Bản dự thảo Nghị định này đã khắc phục được nhược điểm của Nghị định 57/2006/NĐ-CP, đó là việc đưa ra các dấu hiệu để tiếp cận thế nào là thương mại điện tử.Tuy nhiên nội hàm của thương mại điện tử trong bản dự thảo hay nói cách khác là những dấu hiệu về thương mại điện tử mà bản dự thảo đưa ra có nhiều điều chưa hợp lý và dừng lại chỉ bao gồm :

          Thứ nhất: Thông tin trong thương mại điện tử phải là những thông tin đã được số hóa.

          Thứ hai: Phương thức giao nhận trong thương mại điện tử có thể tiến hành một cách hữu hình và vô hình, cụ thể những sản phẩm công nghệ thông tin có thể tiến hành một cách vô hình thông qua internet.

          Thứ ba: Hoạt động thương mại điện tử là một hoạt động có tính cách mạng trong kỷ nguyên số ngày này, vì thế phải ràng buộc một định nghĩa có tính dự liệu hơn cho những phát sinh sau này của hoạt động thương mại điện tử.

          Theo chúng tôi cách tiếp cận khái niệm của dự thảo Nghị Định còn nhiều khiếm khuyết chưa đầy đủ và nên nghiên cứu tiếp cận theo một trong hai khái niệm sau :   

          Thứ nhất: Tiếp cận theo cách định nghĩa của WTO :

          "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet"

          Thứ hai: Tiếp cận theo kinh tế học và tính kỹ thuật điện tử để đảm bảo những phát sinh của hoạt động thương mại điện tử không vượt qua phạm vi điều chỉnh của Nghị định:

          “Thương mi đin t là vic s dng các phương tin truyn thông đin t và công ngh x thông tin s trong giao dch kinh doanh nhm to ra, chuyn ti và định nghĩa li mi quan h để to ra các giá tr gia các t chc và gia các t chc và cá nhân.”

 

3-Không nên quy định lại khái niệm hoạt động thương mại trong Nghị định 

          Theo chúng tôi Nghị định cũng không cần phải nhắc lại thế nào là hoạt động thương mại khi khái niệm này đã được Luật thương mại quy định. Hoạt động thương mại điện tử chỉ khác hoạt động thương mại thuần túy về phương thức tiến hành, còn về xác định bản chất theo pháp luật Việt Nam thì vẫn là hành vi nhằm mục đích sinh lợi và không có nhiều khác biệt.

 

4-Về giá trị pháp lý như bản gốc của chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại.

          Đồng ý với quan điểm của Ban soạn thảo về việc xác định giá trị pháp lý như văn bản của chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại điện tử. Tuy nhiên cũng cần phải nhắc lại việc gọi tên hay mô phỏng các loại chứng từ điện tử ở Điều 3, trong đó có trường hợp fax là một dạng thông điệp dữ liệu nhưng lại được hiển thị dưới dạng văn bản thì có được coi là chứng từ điện tử hay không ? Vì vậy, Ban soạn thảo cũng nên lưu ý điều này, và cũng cần phải có kế hoạch rà soát các loại chứng từ điện tử theo từng nhóm, để từ đó xác định và liệt kê những chứng từ điện tử đặc thù để tránh gây nhầm lẫn khi áp dụng pháp luật.

          Bên cạnh đó, khi xem xét giá trị pháp lý như bản gốc của chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại thì nội dung mô tả trong điểm a khoản 1 Điều 9 là chưa đầy đủ và rõ ràng về mặt pháp lý. Chứng từ điện tử khi có giá trị như bản gốc thì việc chứng thực phải qua một trình tự thủ tục nhất định chứ không thể qua loa như trong diễn giải ở điều khoản này. Đây là gút mắc lớn nhất trong quá trình giải quyết các tranh chấp ngoại thương bằng trọng tài khi có sự xung đột quan điểm chấp nhận hay không chấp nhận các chứng cứ liên quan đến vụ tranh chấp bằng thông điệp dữ liệu là email hoặc bản Fax (không xác định được bản gốc)

          Tổ chức cung ứng dịch vụ email phải thực hiện việc chứng thực như thế nào ? Theo chúng tôi cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử cần có quy định về nội dung, hình thức và cả thời gian chứng thực. Vì vậy, kiến nghị sửa đổi và bổ sung như sau :

          - Sửa đổi : Điểm a khoản 1 Điều 9 như sau: “Được ký số, hoặc chứng thực bởi tổ chức cung ứng dịch vụ chứng thực chứng từ điện tử theo một trình tự thủ tục nhất định, hoặc áp dụng một biện pháp công nghệ khác nhằm đảm bảo tính toàn vẹn cũng theo một trình tự thủ tục nhất định. Chứng từ điện tử có giá trị như bản gốc kề từ thời điểm được khởi tạo”.

          - Bổ sung : Khoản 2 điều 5 của dự thảo Nghị định : quy định trách nhiệm của Bộ Công Thương ban hành văn bản hướng dẫn trình tự thủ tục cho tổ chức cung ứng dịch vụ chứng thực chứng từ điện tử đã có giao dịch trên thực tế; quy định này cần dự liệu cả trường hợp hết thời gian dữ liệu đã bị đẩy ra khỏi vùng đệm của hệ thống máy tính quản lý dữ liệu thì sẽ xử lý như thế nào ?

 

5-Về Luật áp dụng cho các hợp đồng thương mại điện tử khi chủ thể là bên nước ngoài

          Đây là thiếu sót của Nghị định 57/2006 và Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chưa dự liệu đến Luật điều chỉnh áp dụng cho các hợp đồng thương mại điện tử khi chủ thể một bên là nước ngoài, một bên là Việt Nam thì sẽ áp dụng Luật nào ? có đương nhiên được áp dụng Luật Việt Nam hay không ?

          Theo chúng tôi cần quy định luôn văn bản luật điều chỉnh các quan hệ giao dịch thương mại điện tử Việt Nam là Luật Việt Nam sẽ phù hợp và thuận lợi cho các hoạt động tài phán tranh chấp sau này của Tòa án hoặc Trọng tài.   

 

6- Cần làm rõ việc xác định giá trị của hợp đồng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài.

          Luật giao dịch điện tử 2005 quy định: “Nhà nước công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài nếu chữ ký điện tử hoặc chứng thư điện tử đó có độ tin cậy tương đương với độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử theo quy định của pháp luật. Việc xác định mức độ tin cậy của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài phải căn cứ vào các tiêu chuẩn quốc tế đã được thừa nhận, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các yếu tố có liên quan”.

          Quy định này dẫn đến những câu hỏi bỏ ngõ về độ tin cậy tương đương về độ tin cậy của chữ ký điện tử nước ngoài và chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam là như thế nào? Những tiêu chuẩn quốc tế nào được thừa nhận ? Vì vậy, để giải quyết vấn đề còn bỏ ngõ nêu trên theo chúng tôi Nghị định này phải cân nhắc quy định bổ sung các căn cứ để xác định giá trị của hợp đồng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài nhằm làm cơ sở cho các cơ quan tài phán tranh chấp có cơ sở đánh giá các chứng cứ. 

 

7-Về cơ quan tài phán tranh chấp trong thương mại điện tử

          Trong giao dịch thương mại, hợp đồng là cơ sở pháp lý hình thành nên quyền và nghĩa vụ của các bên. Vì thế, Nghị định đã dành phần lớn trọng tâm và nội dung để mô tả chi tiết về hợp đồng thương mại điện tử. Tuy nhiên, cơ quan tài phán tranh chấp trong thương mại điện tử chưa được quy định.

          Tranh chấp thương mại điện tử còn khá mới mẻ và lần đầu tiên được đề cập hướng dẫn trong Nghị định này, do đó Tòa án và Trọng tài rất khó vận dụng từ Bộ luật tố tụng dân sự hay Luật Trọng tài.  Vì vậy, theo chúng tôi cần phải có điều khoản đề cập đến vấn đề này để tránh gây tranh cãi về thẩm quyền tài phán và cơ quan tài phán khi tranh chấp thương mại điện tử phát sinh.

 

8-Về chủ thể và thủ tục thành lập websites thương mại điện tử

          Về chủ thể thành lập websites thương mại điện tử: hiện nay có hai quan điểm khác nhau : quan điểm thứ nhất cho rằng nên cho cá nhân thành lập còn quan điểm thứ hai cho rằng chỉ nên cho thương nhân thành lập. Chúng tôi nghiên về quan điểm thứ hai nhiều hơn khi tiêu chí tiếp cận của chúng tôi là cần phải bảo vệ người tiêu dùng khi tình trạng lừa đảo người tiêu dùng hiện nay khá phổ biến nhất là vụ trang websites mua bán 24 và thương nhân ở đây không phải chỉ có các pháp nhân kinh doanh mà còn các cá nhân có đăng ký kinh doanh. Đối với chủ thể cá nhân trong trường hợp này cũng không khó khăn gì khi họ phải thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh để được kinh doanh nhất là việc đang ký kinh doanh qua mạng. 

           Về thủ tục thành lập websites thương mại điện tử :theo như dự thảo Nghị định thì chỉ cần đăng ký là được theo chúng tôi thì quá dễ dãi, đây là kẻ hở của pháp luật, sự quản lý lỏng lẽo của cơ quan nhà nước nên người tiêu dùng mới dễ bị lừa đảo. Cũng trên góc độ cần bảo vệ tối đa quyền lợi người tiêu dùng trong điều kiện có thể theo chúng tôi việc thành lập websites thương mại điện tử cần phải được xem xét một cách thận trọng trước khi cấp phép, trong đó cần chú ý các quy định về thủ tục thanh toán qua mạng để đàm bảo an toàn cho khách hàng khi phải mua hàng qua các trang websites.  

          Chân thành cám ơn các đại biểu tham gia hội thảo đã lắng nghe phần trình bày của chúng tôi./.

Nội dung bài góp ý này được trình bày trực tiếp tại Hội thảo do Bộ Công thương ; Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam (VCCI ) và Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/08/2012.


<< Back | Hỗ trợ trực tuyến


Các tin khác

 

TRA CỨU VĂN BẢN

 

HỎI ĐÁP

 

BẢO HIỂM NGHỀ NGHIỆP

 

ĐẶT LỊCH HẸN


 

THÔNG BÁO MỚI

Thư ngõ chương trình tìm chút thanh thản 8

 

TIN TỨC MỚI

LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Thế chấp nhà: Không được hiểu bất lợi cho dân
NGHỊ ĐỊNH 100/2008/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
NGHỊ ĐỊNH SỐ 85/2007/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 100/2008/NĐ-CP
NGHỊ ĐỊNH 55/2009/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 06 NĂM 2009 QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
NĐ 106/2010/NĐ-CP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 85/2007/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 5 NĂM 2007
NGHỊ ĐỊNH 91/2012/NĐ-CP QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
THÔNG TƯ 160/2009/TT-BTC HƯỚNG DẪN MIỄN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN NĂM 2009 THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 32/2009/QH12 NGÀY 19/6/2009 CỦA QUỐC HỘI
NGHỊ ĐỊNH SỐ 105/2009/NĐ-CP NGÀY 11 THÁNG 11 NĂM 2009 VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
THÔNG TƯ 161/2009/TT-BTC NGÀY 12 THÁNG 08 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CHUYỂN NHƯỢNG, NHẬN THỪA KẾ, NHẬN QUÀ TẶNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN
NGHỊ ĐỊNH SỐ 49/2009/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 05 NĂM 2009 QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 19/2009/TTLT-BTC-BNV NGÀY 02 THÁNG 02 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM VIỆC TRONG TỔ CHỨC CƠ YẾU
NGHỊ ĐỊNH 62/2010/NĐ-CP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 53/2007/NĐ-CP NGÀY 04 THÁNG 4 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 123/2008/TTLT-BTC-BCA NGÀY 16 THÁNG 12 NĂM 2008 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI SỸ QUAN, HẠ SỸ QUAN, CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC HƯỞNG LƯƠNG THUỘC BỘ CÔNG AN
NGHỊ ĐỊNH 104/2011/NĐ-CP QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ KINH DOANH XĂNG DẦU
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 122/2008/TTLT-BTC-BQP HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG HƯỞNG LƯƠNG THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG
NGHỊ ĐỊNH 114/2011/NĐ-CP QUY ĐỊNH VỀ MẪU BIỂU TRONG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG, CẢNH SÁT BIỂN
THÔNG TƯ 55/2007/TT-BTC NGÀY 29 THÁNG 5 NĂM 2007 HƯỚNG DẪN MIỄN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHUYÊN GIA NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN VIỆN TRỢ PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
NGHỊ ĐỊNH 76/2010/NĐ-CP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 11 NGHỊ ĐỊNH SỐ 06/2009/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 01 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT, KINH DOANH RƯỢU VÀ THUỐC LÁ

 

VBPL-HIỆU LỰC VĂN BẢN

Văn Bản Hiệu Lực 14.2016
Văn Bản Hiệu Lực 13.2016
Văn Bản Hiệu Lực 12.2016
Văn Bản Hiệu Lực 11.2016
Văn Bản Hiệu Lực 10.2016
Văn Bản Hiệu Lực 09.2016
Văn Bản Hiệu Lực 08.2016
Văn Bản Hiệu Lực 07.2016
Văn Bản Hiệu Lực 06.2016
Văn Bản Hiệu Lực 05.2016
Văn Bản Hiệu Lực 04.2016
Văn Bản Hiệu Lực 03.2016
Văn Bản Hiệu Lực 02.2016
Văn Bản Hiệu Lực 01.2016

 

THÀNH VIÊN CÔNG TY


TS. LS. Phan Thông Anh


Ths. Ls. Trần Thị Minh Nguyệt


Ths. Ls. Trương Công Khoa


Ths. Ls. Lê Hồng Sinh


Ls. Vũ Hồng Thành


Ls. Đỗ Hoàng Minh


Ls. Nguyễn Trần Khoa


Ls. Nguyễn Trần Phú Ngọc Hiếu


Ls. Nguyễn Thị Minh Thủy


 

BIỂU MẪU

 

 

DỊCH VỤ PHÁP LÝ

 

 

DOWNLOAD PHẦN MỀM

 

 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

 

 

THỐNG KÊ

 

  • Tổng số đang online  : 31
    Tổng số lượt truy cập : 1,577,125

 

VIDEO CLIP

  • Chuyến thăm tặng quà tết cho bà con thị xã Đồng Xoài
  • Chuyến thăm tặng quà tết cho bà con huyện Hớn Quản
  • Truyền hình bình phước