ViNaLaw
Phone:
LIÊN HỆ
Planets Forum WORLD Hop Dong Van Ban Xu PhAT Thue ca nhan

 

Từ lời khai lần ra sự thật vụ án

Mới đây, TAND TP.HCM đã dựa trên các lời khai của đương sự để sửa bản án sơ thẩm, một cách làm rất đáng lưu ý vì khi xử án dân sự, các tòa thường dựa trên nguyên tắc “trọng chứng hơn trọng cung”. Tòa này đưa ra được những nhận định rất thuyết phục, được VKS đồng tình cao.

Bên nói “đã bán nhà”, bên bảo “không”

Nguyên đơn là ông L. cho rằng vào năm 2007, ông mua căn nhà tại quận Tân Phú (TP.HCM) của bà T. với giá 1,8 tỉ đồng, tương đương 100 lượng vàng SJC. Ông đã đặt cọc 15 lượng và giao 50 lượng vàng. Việc giao vàng, mua bán nhà được thể hiện tại giấy biên nhận không ghi ngày, tháng, năm và giấy cam kết giao nhà ghi ngày 31-12-2007. Về số tiền còn lại là 630 triệu đồng, hai bên thỏa thuận ông sẽ giao cho bà T. sau khi hoàn tất thủ tục mua bán nhà. Ngày 28-3-2008, bà T. đã giao nhà cho ông và ông đã sử dụng từ đó đến nay, trong quá trình ở ông có sửa chữa nhà.

Bị đơn là bà T. thừa nhận các tài liệu mà ông L. cung cấp là do bà lập. Thế nhưng, theo bà thì việc lập các tài liệu đó chỉ nhằm để cho chồng cũ của bà cũng là em trai ông L. giúp bà đòi lại căn nhà đang cho người khác thuê. Thực tế bà không có giao dịch với ông L., không có nhận tiền và không giao nhà cho ông.

Tháng 3-2011, bà T. gửi đơn khiếu nại đến UBND phường yêu cầu ông L. trả lại nhà nhưng ông không đồng ý với lý do ông đã mua nhà. Tiếp đó, ông L. khởi kiện ra TAND quận Tân Phú yêu cầu bà T. tiếp tục thực hiện việc mua bán nhà. Nếu không, bà T. phải trả cho ông số tiền đã giao là 1,17 tỉ đồng và tiền sửa nhà hơn 117 triệu đồng, đồng thời ông sẽ giao lại căn nhà.

Xử sơ thẩm tháng 6, TAND quận Tân Phú đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông L. là buộc bà T. trả lại cho ông L. 900 triệu đồng và không chấp nhận việc đòi tiền sửa chữa nhà. Phần ông L. và gia đình phải trả lại căn nhà cho bị đơn.

Sau đó, ông L. kháng cáo đòi tiền sửa nhà và đề nghị được giữ nguyên các phần khác của án sơ thẩm. Bà T. cũng kháng cáo yêu cầu không chấp nhận nội dung khởi kiện của ông L. vì thực chất không có việc mua bán nhà. Bà không nhận tiền cũng như không giao nhà cho ông L. Việc ông L. vào ở trong nhà là do được chồng cũ của bà giao nhà và việc sửa chữa nhà không có sự đồng ý của bà. Tuy nhiên, bà chấp nhận trả cho ông L. số tiền mà ông đã bỏ ra để sửa nhà.

Mâu thuẫn trong các lời khai

Tại phiên xử phúc thẩm, TAND TP.HCM nhận định: Việc mua bán nhà bằng giấy biên nhận không ghi thời gian và giấy giao nhà có ghi ngày, tháng, năm nhưng có sự sửa chữa là không đúng quy định của pháp luật. Chưa kể, khi hai bên làm các giấy này, căn nhà đang được thế chấp hợp pháp tại ngân hàng. Từ đó, tòa xác định giao dịch mua bán nhà trong vụ kiện là vô hiệu, các bên cần khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi làm hợp đồng vô hiệu phải bồi thường thiệt hại. Vì vậy, cần làm rõ hai bên đã giao nhận gì và có thiệt hại xảy ra hay không.

Về việc giao cọc, ông L. nói đã đặt cọc 15 lượng vàng thông qua em trai là chồng cũ của bà T. và được xác nhận bằng giấy biên nhận không ghi ngày, tháng, năm. Thế nhưng bà T. không thừa nhận có nhận số vàng trên từ ông L. hay em trai ông. Em trai ông L. từng khai căn nhà trên bà T. bán cho ông và chưa nhận tiền. Một lần khác, ông này cho biết “không có nhận 15 lượng vàng của bà T.”, bà T. viết giấy trên nhằm nhờ ông đòi nhà đang cho thuê. Ông không có lời khai nào thừa nhận ông có đặt cọc giùm ông L. số vàng trên để mua căn nhà của bà T. Phía ông L. cũng không xuất trình được chứng cứ đã đưa em trai số vàng đặt cọc cho bà T. Do đó, không có cơ sở xác định ông L. đã đặt cọc để mua nhà theo giấy biên nhận ông xuất trình. Tại phiên sơ thẩm, ông L. cũng rút lại yêu cầu đòi số vàng này.

Trong việc giao nhận tiền để thực hiện mua bán nhà theo giấy cam kết giao nhận nhà, HĐXX nhận định: Tại đơn khởi kiện và phiên sơ thẩm, ông L. trình bày: “Ngày 31-12-2007, ông có đưa thêm bà T. 50 lượng vàng (tương đương 900 triệu đồng)”. Nhưng tại phiên tòa này, ông L. lại nói là “tháng 10-2007 đã giao cho em trai 900 triệu đồng (tương đương 50 lượng vàng) đưa cho bà T. để thực hiện việc mua bán nhà”. Đến ngày 31-12-2007, bà T. có viết giấy cam kết giao nhà trong đó có ghi “đã nhận đủ tiền mua nhà”. Xem ra, tại phiên sơ, phúc thẩm và trong đơn khởi kiện, lời khai của ông L. không thống nhất về vật được giao là tiền hay vàng và thời điểm giao là tháng 10 hay tháng 12-2007. Lại nữa, ông L. từng khai đến tháng 12-2007, em trai cho biết bà T. đã thế chấp căn nhà cho ngân hàng, nếu muốn nhận nhà vào ở trước và chờ đáo hạn ngân hàng thì phải trả tiền mua nhà 50 lượng (tương đương 900 triệu đồng). Do trước đó ông có cho em trai mượn 900 triệu đồng nên ông yêu cầu người này trả 900 triệu đồng cho bà T. để bà viết giấy nhận tiền và giao nhà. Điều này cho thấy lời khai của ông về việc giao nhận tiền hay vàng cho bà T. là không có căn cứ.

Phía ông L. còn cho rằng đã giao tiền 1,17 tỉ đồng mua nhà nên bà T. đã giao nhà và ông vào ở đến nay. Tuy nhiên, tại phiên phúc thẩm, bà T. lại cho rằng sau khi lấy lại nhà từ người thuê cũ, bà đã giao nhà cho em ông chứ không giao cho ông. Phía ông L. cũng thừa nhận “đã nhận nhà từ em trai”. Thế mà cấp sơ thẩm lại xác định bà T. là người giao lại chìa khóa căn nhà cho ông L. là không đúng với sự thừa nhận của hai bên. Do đó, việc nguyên đơn cho rằng bà T. viết giấy cam kết giao nhà và giao cho ông ở đến nay sau khi người thuê cũ trả nhà thể hiện việc ông có giao 1,17 tỉ đồng cho bà T. để mua nhà là không có cơ sở.

Tòa phúc thẩm quyết định bác yêu cầu khởi kiện của ông L. về việc đòi tiền. Ông phải trả nhà cho bà T., còn bà T. có trách nhiệm thanh toán tiền sửa nhà cho ông.

Từng có vụ lật ngược tương tự

Năm 2009, TAND TP.HCM đã dựa vào giấy tờ nhà để chấp nhận yêu cầu của bà T., bác toàn bộ lời khai của ông Y. và của các anh chị em ông (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) cùng với các nhân chứng về nguồn gốc căn nhà. Theo tòa, các nhân chứng chỉ nghe lời cha chồng bà T. nói mua nhà, còn cụ thể hơn thì không ai nắm. Ngoài những lời khai thì không có chứng cứ nào khác xác định căn nhà này là do cha mẹ ông Y. để lại cho tất cả anh chị em.

Sau đó, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, bác yêu cầu của bà T., xác định căn nhà trên là di sản của cha mẹ chồng bà T. để lại cho các con. Bản án này cũng được sự đồng thuận của phía VKS.

Theo tòa, cấp sơ thẩm đã đánh giá chưa đầy đủ, chưa toàn diện các chứng cứ khi chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tất cả đương sự, kể cả nguyên đơn đều thừa nhận căn nhà do cha mẹ chồng bà T. bỏ tiền ra mua. Điều này phù hợp với lời khai của các nhân chứng. Lời khai của ông Y. phù hợp với lời khai của sáu người con khác. Về phía nguyên đơn, ngoài việc người chồng đứng tên trên giấy chủ quyền thì không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì khác để chứng minh có việc tặng cho nhà. Trên thực tế, dù căn nhà đứng tên chồng bà T. và ông Y. nhưng các đương sự đều thừa nhận sau khi mua nhà, cả gia đình chồng bà T. đều về ở.

HOÀNG YẾN

Link gốc: http://phapluattp.vn/20131023015514181p0c1063/tu-loi-khai-lan-ra-su-that-vu-an.htm


<< Back | Hỗ trợ trực tuyến


Các tin khác

 

TRA CỨU VĂN BẢN

 

HỎI ĐÁP

 

BẢO HIỂM NGHỀ NGHIỆP

 

ĐẶT LỊCH HẸN


 

THÔNG BÁO MỚI


 

TIN TỨC MỚI

LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Thế chấp nhà: Không được hiểu bất lợi cho dân
NGHỊ ĐỊNH 100/2008/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
NGHỊ ĐỊNH SỐ 85/2007/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 100/2008/NĐ-CP
NGHỊ ĐỊNH 55/2009/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 06 NĂM 2009 QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
NĐ 106/2010/NĐ-CP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 85/2007/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 5 NĂM 2007
NGHỊ ĐỊNH 91/2012/NĐ-CP QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
THÔNG TƯ 160/2009/TT-BTC HƯỚNG DẪN MIỄN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN NĂM 2009 THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 32/2009/QH12 NGÀY 19/6/2009 CỦA QUỐC HỘI
NGHỊ ĐỊNH SỐ 105/2009/NĐ-CP NGÀY 11 THÁNG 11 NĂM 2009 VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
THÔNG TƯ 161/2009/TT-BTC NGÀY 12 THÁNG 08 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CHUYỂN NHƯỢNG, NHẬN THỪA KẾ, NHẬN QUÀ TẶNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN
NGHỊ ĐỊNH SỐ 49/2009/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 05 NĂM 2009 QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 19/2009/TTLT-BTC-BNV NGÀY 02 THÁNG 02 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM VIỆC TRONG TỔ CHỨC CƠ YẾU
NGHỊ ĐỊNH 62/2010/NĐ-CP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 53/2007/NĐ-CP NGÀY 04 THÁNG 4 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 123/2008/TTLT-BTC-BCA NGÀY 16 THÁNG 12 NĂM 2008 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI SỸ QUAN, HẠ SỸ QUAN, CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC HƯỞNG LƯƠNG THUỘC BỘ CÔNG AN
NGHỊ ĐỊNH 104/2011/NĐ-CP QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ KINH DOANH XĂNG DẦU
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 122/2008/TTLT-BTC-BQP HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG HƯỞNG LƯƠNG THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG
NGHỊ ĐỊNH 114/2011/NĐ-CP QUY ĐỊNH VỀ MẪU BIỂU TRONG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG, CẢNH SÁT BIỂN
THÔNG TƯ 55/2007/TT-BTC NGÀY 29 THÁNG 5 NĂM 2007 HƯỚNG DẪN MIỄN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHUYÊN GIA NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN VIỆN TRỢ PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
NGHỊ ĐỊNH 76/2010/NĐ-CP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 11 NGHỊ ĐỊNH SỐ 06/2009/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 01 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT, KINH DOANH RƯỢU VÀ THUỐC LÁ

 

VBPL-HIỆU LỰC VĂN BẢN

Bản tin pháp luật 01.2022
Bản tin pháp luật 02.2022
Bản tin pháp luật 03.2022
Bản tin pháp luật 04.2022
Án lệ số 52/2021/Al
Án lệ số 51/2021/AL
Án lệ số 50/2021/AL
Án lệ số 49/2021/AL
Án lệ số 48/2021/AL
Án lệ số 47/2021/AL
Án lệ số 46/2021/AL1
Án lệ số 45/2021/AL
Án lệ số 44/2021/AL
Án lệ số 43/2021/AL
ÁN LỆ SỐ 42
ÁN LỆ SỐ 41
ÁN LỆ SỐ 40/2021/AL
Án lệ số 39.2020.AL
Án lệ số 38/2020

 

THÀNH VIÊN CÔNG TY


TS. LS. Phan Thông Anh


Ths. Ls. Trần Thị Minh Nguyệt


Ths. Ls. Trương Công Khoa


Ths. Ls. Lê Hồng Sinh


Ls. Đỗ Hoàng Minh


Ls. Vũ Hồng Thành


Ls. Nguyễn Trần Khoa


Ls. Nguyễn Trần Phú Ngọc Hiếu


Ls. Nguyễn Thị Minh Thủy


Ls. Phan Thanh Hùng


Ls. Nguyễn Minh Quang


 

BIỂU MẪU

 

 

DỊCH VỤ PHÁP LÝ

 

 

DOWNLOAD PHẦN MỀM

 

 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

 

 

THỐNG KÊ

 

  • Tổng số đang online  : 34
    Tổng số lượt truy cập : 1,878,836

 

VIDEO CLIP

  • Chuyến thăm tặng quà tết cho bà con thị xã Đồng Xoài
  • Chuyến thăm tặng quà tết cho bà con huyện Hớn Quản
  • Truyền hình bình phước