ViNaLaw
Phone:
LIÊN HỆ
Planets Forum WORLD Hop Dong Van Ban Xu PhAT Thue ca nhan

 

Góp ý hợp đồng trong Bộ Luật Dân Sự - Ngày 10/04/2014

Một số vấn đề bất cập về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự và

phương hướng sửa đổi

Ls.Phan Thông Anh - Ủy viên Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam - Giám đốc Công ty Luật hợp danh Việt Nam - Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) 

Góp ý ngày 10/4/2014 tại Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) CN.TPHCM

 

 

Tám năm một chặng đường áp dụng các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2005 đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập; chồng chéo với một số luật chuyên ngành gây khó cho các tổ chức, cá nhân khi thực hiện các giao dịch hợp đồng trong thực tế và các cơ quan có thẩm quyền cũng gặp khó khi áp dụng luật cho kết luận trong việc tài phán tranh chấp về hợp đồng.

          

Trong thời gian hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có một Luật hợp đồng riêng biệt để điều chỉnh thống nhất các quan hệ hợp đồng trên tất cả lĩnh vực thì việc hoàn thiện chế định hợp đồng trong Bộ Luật dân sự là việc làm hết sức cần thiết và cần được xem xét một cách thấu đáo trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân sự lần này.

 

1-Cần mở rộng khái niệm hợp đồng trong Bộ luật dân sự :

 

Chúng tôi hết sức đồng tình với quan điểm của GS.TS Nguyễn Thị Mơ (1)trong Hội thảo góp ý BLDS năm 2013 cho rằng cần cấu tạo lại khái niệm hợp đồng dân sự theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh, bởi lẽ khái niệm về hợp đồng trong kinh doanh đang trống vắng trong Luật thương mại mà nhiệm vụ của Bộ luật dân sự sẽ điều chỉnh các chế định mà trong luật chuyên ngành chưa quy định điều chỉnh.Ở Thái Lan thì người ta đã hợp nhất Luật dân sự và Luật Thương mại thành Luật Dân sự Thương mại Thái Lan nên vấn đề khái niệm hợp đồng được tiếp cận là hợp đồng dân sự thương mại còn Việt Nam ta thì hai Hợp đồng này đang được luật điều chỉnh khác nhau từ khái niệm cho đến nội dung,về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, về lãi suất áp dụng và điều kiện bồi thường thiệt hại cũng khác nhau nên sửa đổi lần này cần phải cân nhắc để hoàn thiện khái niệm hợp đồng

 

Điều 388. Khái niệm hợp đồng dân sự

 

Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

 

Quy định như trên tự nó làm hạn chế phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự đối với các loại hợp đồng khi này được hiệu quy định của điều luật chỉ điềuchỉnh những hợp đồng được ký kết để phục vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng còn các hợp đồng kinh doanh thương mại thì không điều chỉnh.Do đó kiến nghị sửa đổi điều 388/BLDS.2005 như sau :“ Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng “.

 

2-Cân cân nhắc hình thức hợp đồng “chỉ có người làm chứng”:

 

Theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể (Khoản 1 Điều 24 Luật Thương Mại 2005). Riêng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luật Thương Mại 2005 chỉ công nhận theo hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.Theo BLDS 2005, hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, trừ một số loại hợp đồng có yêu cầu riêng (2).

          
Thực tế mua bán hàng hoá quốc tế hiện nay nhất là mua bán mặt hàng nông sản, hầu hết khách hàng nước ngoài đều ép các doanh nghiệp Việt Nam ký kết hợp đồng mua bán hàng nông sản thông qua nhà mô giới mà người mua hàng không ký kết hợp đồng với người bán hàng. Hình thức này dẫn chiếu đến quy định củaĐiều 11 Công ước Viên 1980 là có người làm chứng chứ không ký kết trực tiếp giữa hai bên.

 

Công ước Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG, Công ước Viên 1980) là một hiệp ước quy định một luật mua bán hàng hóa quốc tế thống nhất. Tính đến tháng 8 năm 2010, nó đã được phê chuẩn bởi 77 quốc gia chiếm một tỷ lệ đáng kể trong hoạt động thương mại thế giới, làm cho nó trở thành một trong những pháp luật quốc tế thống nhất thành công nhất. Benin là nhà nước gần đây nhất phê chuẩn công ước này. CISG cho phép nhà xuất khẩu tránh vấn đề lựa chọn pháp luật, CISG cung cấp"chấp nhận các quy tắc nội dung mà các bên ký kết hợp đồng, tòa án, và trọng tài viên có thể dựa vào"(3).

 

CISG công nhận nguyên tắc tự do về hình thức hợp đồng, nghĩa là một hợp đồng mua bán hàng hóa không nhất thiết phải bằng văn bản mà có thể được thành lập bằng lời nói, bằng hành vi và có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng nhân chứng (Điều 11 CISG). Đây là một điểm khác biệt cơ bản giữa CISG và pháp luật Việt Nam về hình thức của hợp đồng. Sự khác biệt này là một quy phạm xung đột và thiệt hại chỉ xảy ra đối với các doanh nghiệp trong nước vì nếu bên mua hàng nước ngoài không thực hiện hợp đồng, không nhận hàng theo hợp đồng mà bên bán hàng đã ký với bên mô giới thì bên bán hàng Việt Nam không thể khởi kiện bên nước ngoài tại Việt Nam được do hình thức hợp đồng với người làm chứng chưa được pháp luật Việt nam chấp nhận.Ngược lại nếu bên bán hàng Việt Nam không thực hiện hợp đồng thông qua người mô giới thì bên mua hàng nước ngoài có thể khởi kiện Việt Nam theo điều 11 Công ước Viên 1980 tại Trọng tài nước ngoài.

         
 Theo chúng tôi về vấn đề này có hai phương án để kiến nghị
          
+ Phương án (1) là phương án hạn chế thực hiện hình thức hợp đồng này : Nếu Việt Nam đã hoàn tất hồ sơ tham gia Công ước Viên năm 1980 thì nên chấp nhận điều 11 của Công ước, phía Việt Nam không bảo lưu điều này để mở rộng hình thức giao kết hợp đồng theo điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
          
+ Phương án (2) là phương án mở rộng thực hiện hình thức hợp đồng này : lần sửa đổi BLDS này cần phải cân nhắc đưa vào quy định trong điều 124/BLDS như sau :

 

Khoản 1 : Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thểhay thông qua người làm chứng. 

          
3-Cần quy định rõ hơn giá trị giao dịch bằng thông điệp dữ liệu :

 

Sự bùng nổ của thông tin liên lạc đã tác động mạnh đến mọi mặt đời sống con người. Việc các bên trực tiếp gặp gỡ, đàm phán và cùng ký vào văn bản hợp đồng đã trở nên không tiện dụng và nhiều khi chỉ phù hợp với những hợp đồng đòi hỏi hình thức trang trọng. Tham gia các giao dịch với sự trợ giúp của các phương tiện thông tin điện tử đang ngày càng phổ biến và trở nên một yếu tố không thể thiếu của kinh doanh hiện đại. Các khái niệm “nền kinh tế số”, “thương mại điện tửđã được bổ sung vào hệ ngôn ngữ phổ thông của rất nhiều quốc gia. Lợi thế to lớn của thương mại điện tử là không thể phủ nhận.

Ðiều 124. BLDS 2005 quy định về Hình thức giao dịch dân sự:

 

Khoản 1 ...........Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.

 

Điều 12.LGDĐT.2005 Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản

 

Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết.

 

Điều 13. LGDĐT.2005  Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc

 

Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:

 

1. Nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh.

 

Nội dung của thông điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu;

 

2. Nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết.

 

Điều 14.LGDĐT.2005 Thông điệp dữ liệu có giá trị làm chứng cứ

 

1. Thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu.

 

2. Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.

 

  Theo quy định trên thì chúng ta nên hiểu : Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản; thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản; có giá trị như bản gốc và có giá trị làm chứng cứ nên hiểu như thế nào là đúng  ?

  

Thực tế giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VCCI) thì tất cả các email, Fax giao dịch hợp đồng nếu được các bên tranh chấp chấp nhận là có thật được giao dịch giữa hai bên thì cơ quan trọng tài giải quyết vụ tranh chấp hết sức dễ dàng nhưng nếu các bên không đồng ý với các dữ liệu giao dịch bằng email, bằng Fax và cho rằng không có thật thì bên cung cấp chứng cứ phải chứng minh là nó có thật, nó đã được giao dịch là cả một vấn đề gian nan mà cơ quan tài phán trọng tài hoặc Toà án cần có một hành lang pháp lýđể có thể công nhận nó là có thật. Việc chứng minh giao dịch điện tử, thông điệp dữ liệu là có thật không phải dễ chứng minh trên thực tiễn, nếu không bổ sung quy định rõ ràng hơn sẽ là bất cập trong giải quyết tranh chấp hợp đồng.

 

Trong năm 2014, một công ty nước ngoài quốc tịch Malyasia làmđơn yêu cầu TAND TPHCM công nhận cho thi hành một Phán quyết của Hội đồng Trọng tài Cao su của Malaysia đối với bị đơn là một Công ty TNHH Thương mại có trụ sở trú đóng tại Quận 10 TPHCM với hình thức hợp đồng ký qua hệ thống điện tử “skype” thì bị TAND.TPHCM bác bỏ không công nhận (4)vì bên nguyên đơn không chứng minh thỏa thuận trọng tài gốc hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài hợp lệtrong quá trình đề nghị Tòa án có thẩm quyền công nhận cho thi hành tại Việt Nam (về phía nguyên đơn không chứng minh được hợp đồng giao dịch là có thật và phía bị đơn Việt Nam chứng minh được đây là một hợp đồng ký trực tiếp không ký gián tiếp qua hệ thống thông điệp dữ liệu như bên nguyên đơn đã nêu viện dẫn trong quyết định Trọng tài Malaysia.

 

Thực tế trên đã minh chứng cho nội dung quy định tại Khoản 1 điều 129/BLDS 2005 là chưa đầy đủ theo chúng tôi cần quy định bổ sung như sau :

 

“ Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản nếu chứng minh giao dịch hình thức thông điệp dữ liệu là có thật” 

 
4-Cần quy định thẩm quyền giao kết hợp đồng của người đại diện pháp luật trong pháp nhân kinh doanh một cách đầy đủ và rõ ràng hơn :
          
Đây là vấn đề mấu chốt liên quan đến hiệu lực hợp đồng được ký kết là thẩm quyền của người đại diện pháp luật khi ký kết hợp đồng nhưng trong BLDS và các luật chuyên ngành khác đều bỏ ngõ vấn đề này. Có hai vấn đề cần phải xem xét đối với người đại diện pháp luật trong quy định của BLDS : (i) chỉ có người đại diện pháp luật của doanh nghiệp là người có thẩm quyền duy nhất để ký kết hợp đồng kinh doanh thương mại hay còn một người khác nữa trong doanh nghiệp ? và (ii) thẩm quyền của người đại diện pháp luật là được giao kết hợp đồng có bị hạn chế hay đến mức 100%số vốn đăng ký hoạt động của doanh nghiệp ? Hai vấn đề này chưa đươc BLDSquy định rõ ràng.
         
 Đối với vấn đề thứ nhất : theo quy định tại điểm e khoản 2 điều 55 của Luật doanh nghiệp 2005 thì Giám đốc Công ty TNHH từ hai thành viên trở lên có quyền : Ký kết hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên“ và điểm a khoản 3 điều 116 Luật doanh nghiệp 2005 thì Giám đốc Công ty cổ phần có quyền : “Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hằng ngày của công ty mà không cần phải có quyết định của Hội đồng quản trị “. Quy định này sẽ dẫn đến một hệ quả là : Không phải người đại diện pháp luật là người có thẩm quyền duy nhất ký kết hợp đồng nhân danh pháp nhânkinh doanh.
Từ quy định trên của Luật doanh nghiệp 2005 chúng tôi có thể kết luận:Nếu Giám đốc doanh nghiệp là người làm thuê, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị là người đại diện pháp luật của doanh nghiệp không có uỷ quyền cho Giám đốc thìGiám đốc vẫn có quyền ký kết hợp đồng kinh doanh theo quyền năng của Luật doanh nghiệp trao cho người mang chức danh Giám đốc.
Vấn đề thứ hai là thẩm quyền ký kết hợp đồng của người đại diện pháp luật đến đâu ? Trên thực tế thì không ít các doanh nghiệp có phân quyền cho từng nhóm người có quyền lực trong doanh nghiệpnhư sau :
+ Giám đốc chỉ được quyền ký kết các giá trị hợp đồng đến 50% tổng giá trị vốn của công ty.
+ Chủ tịch (Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị) chỉ có thẩm quyền quyết định các giá trị hợp đồng từ 51 % đến 75% tổng gía trị vốn của công ty.
+ Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị  có thẩm quyền quyết định các giá trị hợp đồng từ 75% tổng giá trị vốn của công ty trở lên.
Việc quy định thẩm quyền của Giám đốc Công ty trong Luật doanh nghiệp có gì xung đột với thẩm quyền của người đại diện pháp luật trong BLDS hay không đã đến lúc chúng ta cần cân nhắc lại cả hai quy định trong hai đạo luật nêu trên.
Theo chúng tôi thì không có gì là mâu thuẫn, thực chất thẩm quyền của người đại diện pháp luật quy định trong BLDS làthẩm quyền chung của người đứng đầu pháp nhân, còn quy định thẩm quyền của Giám đốc chỉ là quy định bổ sung cho người điều hành hoạt động của một pháp nhân kinh doanh nhưng vấn đề này cần có một quy định rõ ràng trong đợt sửa đổi BLDS kỳ này và theo chúng tôi nên bổ sung một điều luật quy định về phạm vi thẩm quyền của người đại diện pháp luật trong pháp nhân kinh doanhnhư sau : “phạm vi thẩm quyền quyết định giá trị giao dịch hợp đồng của người đại diện pháp luật trong doanh nghiệp(công ty)sẽ do Điều lệ doanh nghiệp(Công ty)quy định”
 
5)-Cần quy định đầy đủ hơn các loại hợp đồng được giao dịch:
          
Việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng hiện nay là một đòi hỏi khách quan cho tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, cần có một hành lang để các chủ thể tự ứng xử hợp tác kinh doanh.Về vấn đề này hiện nay đang có hai quan điểm khác nhau:
          
+Quan điểm thứ nhất :hoàn thiện các quy định về hợp đồng trong Bộ luật dân sự. Hiện nay Bộ luật Dân sự hiện hành chỉ quy định riêng có 13 loại hợp đồng. Trong điều kiện kinh tế thị trường, nhiều quan hệ hợp đồng mới đã hình thành, nhiều biến thể của các hợp đồng thông dụng đã xuất hiện mà chưa được Bộ luật Dân sự quy định như: hợp đồng mua bán hoặc cho thuê doanh nghiệp hoặc cơ sở kinh doanh; hợp đồng cho thuê tài chính; hợp đồng kỹ thuật; các hợp đồng liên quan đến hoạt động ngân hàng; hợp đồng đại lý, ủy thác, môi giới; hợp đồng liên doanh, liên kết kinh tế; hợp đồng tín thác…Song song đó một số hợp đồng được điều chỉnh trong Bộ luật Dân sự thì lại trùng lặp với quy định tại một số đạo luật khác, dẫn đến tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột, không biết áp dụng theo luật nào (Hợp đồng bảo hiểm – được điều chỉnh bởi Luật Kinh doanh bảo hiểm; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất – Luật Đất đai; Hợp đồng về nhà ở - Luật Nhà ở…(5)).Do đó nếu áp dụng theo quan điểm nàycần phải cân nhắc quy định thống nhất nội dung của các hợp đồng hoặc loại bỏ đi để không còn trùng lập và cần quy định bổ sung cho những hợp đồng chưa được quy định.

+Quan điểm thứ hai :nên xây dựng một luật hợp đồng riêng biệt

Hiện nay Trung Quốc và một số nước đã ban hành Luật hợp đồng riêng biệt để làm hành lang pháp lý cho các thương nhân tự xử sự với nhau và làm cơ sở cho các cơ quan tài phán hợp đồng giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng. Việc xây dựng một Luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa rất lớn về sự thống nhất quy chuẩn điều chỉnh các hợp đồng đang được quy định rải rác trong BLDS, Luật thương mại và các luật chuyên ngành khác nhưng chưa đầy đủ để hệ thống pháp luật hợp đồng không phải chấp vá và ngày càng hoàn thiện.
          
Chúng tôi thì nghiêng về quan điểm thứ hai nhiều hơn vì chúng ta không thể chấp vá mãi và không biết cho đến khi nào chúng ta mới có một hệ thống pháp luật hợp đồng hoàn chỉnh, cần mạnh dạn đập căn nhà cũ đi để xây căn nhà mới đàng hoàng hơn để nó có thể tự chống đỡ áp lực của gió bão khi nước ta tham gia hội nhập kinh tế khu vực và hội nhập kinh tế quốc tế, các quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường cũng đang đòi hỏi nhà làm luật Việt Nam cân nhắc quyết định lựa chọn phương án nào cho phù hợp./.
Tài liệu tham khảo :
(1)     GS.TS.Nguyễn Thị Mơ-Trọng tài viên VIAC bài viết về Quy định của BLDS 2005 về hợp đồng - Những bất cập đặt ra từ thực tiễn giao kết hợp đồng của doanh nghiệp và giải pháp sửa đổi ngày 01/03/2013 tại VCCI.
(2)    http://cisgvn.wordpress.com/2010/11/01/so-sanh-cisg-va-lu%e1%ba%adt-vi%e1%bb%87t-nam/ 
(3)   http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Li%C3%AAn_Hi%E1%BB%87p_Qu%E1%BB%91c_v%E1%BB%81_H%E1%BB%A3p_%C4%91%E1%BB%93ng_mua_b%C3%A1n_h%C3%A0ng_h%C3%B3a_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF.
(4)   Quyết định giải quyết yêu cầu công nhận thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài số 176/2014/QĐ/KDTM/ST ngày 04/03/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
(5)    Ý kiến góp ý của Luật sư Trương Thanh Đức trong hội thảo góp ý Bộ luật dân sự ngày 01/03/2013 tại VCCI.


<< Back | Hỗ trợ trực tuyến


Các tin khác

 

TRA CỨU VĂN BẢN

 

HỎI ĐÁP

 

BẢO HIỂM NGHỀ NGHIỆP

 

ĐẶT LỊCH HẸN


 

THÔNG BÁO MỚI

Thư ngõ chương trình tìm chút thanh thản 8

 

TIN TỨC MỚI

LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Thế chấp nhà: Không được hiểu bất lợi cho dân
NGHỊ ĐỊNH 100/2008/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
NGHỊ ĐỊNH SỐ 85/2007/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 100/2008/NĐ-CP
NGHỊ ĐỊNH 55/2009/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 06 NĂM 2009 QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
NĐ 106/2010/NĐ-CP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 85/2007/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 5 NĂM 2007
NGHỊ ĐỊNH 91/2012/NĐ-CP QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
THÔNG TƯ 160/2009/TT-BTC HƯỚNG DẪN MIỄN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN NĂM 2009 THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 32/2009/QH12 NGÀY 19/6/2009 CỦA QUỐC HỘI
NGHỊ ĐỊNH SỐ 105/2009/NĐ-CP NGÀY 11 THÁNG 11 NĂM 2009 VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
THÔNG TƯ 161/2009/TT-BTC NGÀY 12 THÁNG 08 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CHUYỂN NHƯỢNG, NHẬN THỪA KẾ, NHẬN QUÀ TẶNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN
NGHỊ ĐỊNH SỐ 49/2009/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 05 NĂM 2009 QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 19/2009/TTLT-BTC-BNV NGÀY 02 THÁNG 02 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM VIỆC TRONG TỔ CHỨC CƠ YẾU
NGHỊ ĐỊNH 62/2010/NĐ-CP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 53/2007/NĐ-CP NGÀY 04 THÁNG 4 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 123/2008/TTLT-BTC-BCA NGÀY 16 THÁNG 12 NĂM 2008 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI SỸ QUAN, HẠ SỸ QUAN, CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC HƯỞNG LƯƠNG THUỘC BỘ CÔNG AN
NGHỊ ĐỊNH 104/2011/NĐ-CP QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ KINH DOANH XĂNG DẦU
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 122/2008/TTLT-BTC-BQP HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG HƯỞNG LƯƠNG THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG
NGHỊ ĐỊNH 114/2011/NĐ-CP QUY ĐỊNH VỀ MẪU BIỂU TRONG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG, CẢNH SÁT BIỂN
THÔNG TƯ 55/2007/TT-BTC NGÀY 29 THÁNG 5 NĂM 2007 HƯỚNG DẪN MIỄN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHUYÊN GIA NƯỚC NGOÀI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN VIỆN TRỢ PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
NGHỊ ĐỊNH 76/2010/NĐ-CP SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 11 NGHỊ ĐỊNH SỐ 06/2009/NĐ-CP NGÀY 22 THÁNG 01 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT, KINH DOANH RƯỢU VÀ THUỐC LÁ

 

VBPL-HIỆU LỰC VĂN BẢN

Văn Bản Hiệu Lực 14.2016
Văn Bản Hiệu Lực 13.2016
Văn Bản Hiệu Lực 12.2016
Văn Bản Hiệu Lực 11.2016
Văn Bản Hiệu Lực 10.2016
Văn Bản Hiệu Lực 09.2016
Văn Bản Hiệu Lực 08.2016
Văn Bản Hiệu Lực 07.2016
Văn Bản Hiệu Lực 06.2016
Văn Bản Hiệu Lực 05.2016
Văn Bản Hiệu Lực 04.2016
Văn Bản Hiệu Lực 03.2016
Văn Bản Hiệu Lực 02.2016
Văn Bản Hiệu Lực 01.2016

 

THÀNH VIÊN CÔNG TY


TS. LS. Phan Thông Anh


Ths. Ls. Trần Thị Minh Nguyệt


Ths. Ls. Trương Công Khoa


Ths. Ls. Lê Hồng Sinh


Ls. Vũ Hồng Thành


Ls. Đỗ Hoàng Minh


Ls. Nguyễn Trần Khoa


Ls. Nguyễn Trần Phú Ngọc Hiếu


Ls. Nguyễn Thị Minh Thủy


 

BIỂU MẪU

 

 

DỊCH VỤ PHÁP LÝ

 

 

DOWNLOAD PHẦN MỀM

 

 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

 

 

THỐNG KÊ

 

  • Tổng số đang online  : 5
    Tổng số lượt truy cập : 1,577,129

 

VIDEO CLIP

  • Chuyến thăm tặng quà tết cho bà con thị xã Đồng Xoài
  • Chuyến thăm tặng quà tết cho bà con huyện Hớn Quản
  • Truyền hình bình phước