ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BÁO CHÍ > CÔNG TY LUẬT HỢP DANH VIỆT NAM

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BÁO CHÍ

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

CỤC BÁO CHÍ

____________

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

____________________________

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BÁO CHÍ

__________________________________

         

Luật báo chí được Quốc hội khóa XIII kỳ hợp thứ 11 thông qua ngày 05/4/2016. Luật được Chủ tịch nước ký lệnh Công bố ngày 19/4/2016 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT BÁO CHÍ

Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người, được thể hiện trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị của Liên hợp quốc. Quyền tự do báo chí được hiểu là việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân thông qua báo chí. Báo chí có vai trò là phương tiện để mọi công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.

Trên cơ sở Công ước quốc tế và Hiến pháp nước ta qua các thời kỳ, Luật báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí năm 1999 đã quy định về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân, theo đó: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng… Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện quyền tự do báo chí ở nước ta hiện nay, một số quy định đảm bảo quyền còn chưa được cụ thể; việc lợi dụng quyền tự do báo chí để xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức vẫn diễn ra; quy định về quyền tiếp cận thông tin còn thiếu, chưa rõ ràng dẫn đến còn những hạn chế trong việc cung cấp thông tin cho báo chí.

Điều 25 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định các nguyên tắc thực hiện quyền tự do báo chí: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Việc sửa đổi, ban hành Luật báo chí trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, bởi một số lý do sau:

Một là, sửa đổi Luật báo chí hiện hành để triển khai thi hành và phù hợp với các yêu cầu mới do Hiến pháp năm 2013 đặt ra, như các vấn đề: đảm bảo thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; quyền tiếp cận thông tin của báo chí; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp thông tin cho báo chí; các hành vi, nội dung bị cấm thông tin trên báo chí để bảo đảm “tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng; sức khỏe hoặc đạo đức xã hội”.

Hiến pháp 2013 quy định nguyên tắc “các quyền con người, quyền công dân… được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” và khẳng định những quyền này “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14). Theo các quy định của pháp luật quốc tế, quyền tự do báo chí (thực chất là quyền tự do ngôn luận của người dân qua báo chí) là một quyền có giới hạn và các hạn chế quyền này cần phải được quy định cụ thể ở luật trong trường hợp cần thiết theo quy định của Điều 14 Hiến pháp 2013. Vì vậy, Luật báo chí (sửa đổi) cần xây dựng quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân trên cơ sở triển khai thi hành Điều 14, Điều 25 Hiến pháp năm 2013.

Hai là, qua 16 năm thi hành Luật báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã tạo hành lang pháp lý để hoạt động báo chí và các hoạt động liên quan đến báo chí phát triển vượt bậc, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của nhân dân được bảo đảm và phát huy trong khuôn khổ Hiến pháp 1992 và luật định.

Báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình và chất lượng thông tin, trở thành phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu trong đời sống xã hội; tích cực phát hiện, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội; truyền tải ý kiến của nhân dân đóng góp xây dựng chính sách, pháp luật, qua đó phát huy quyền làm chủ của người dân; đấu tranh giữ vững chủ quyền, lãnh thổ quốc gia; phản bác các luận điệu sai trái, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động báo chí thời gian qua bộc lộ những vấn đề đáng lo ngại như: cơ quan báo chí không thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích; thông tin sai sự thật có chiều hướng ngày càng tăng; xu hướng “thương mại hoá” chậm được khắc phục; thông tin vi phạm thuần phong mỹ tục vẫn diễn ra. Nhiều thông tin trên báo chí thiếu chọn lọc, nặng về phản ánh mặt trái, tiêu cực của xã hội; nhiều nội dung tin, bài giật gân, câu khách; tính trung thực của báo chí bị giảm sút. Quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà báo, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan báo chí, các hành vi bị cấm, cung cấp thông tin cho báo chí, vai trò quản lý nhà nước, vai trò của cơ quan chủ quản báo chí… chưa điều chỉnh kịp thời những nảy sinh trong thực tiễn hoạt động báo chí, chưa phát huy được hiệu lực và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về báo chí giai đoạn hiện nay; quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí nhưng cơ chế đảm bảo quyền này chưa cụ thể. Thực tiễn hoạt động báo chí, nhiều vấn đề đã vượt ra ngoài các quy định của pháp luật như: cơ quan báo chí thực hiện nhiều loại hình, vấn đề liên kết trong hoạt động báo chí, vấn đề kinh tế báo chí, tên gọi và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan báo chí… Hơn nữa, các quy phạm về báo chí được quy định trong nhiều văn bản, phân tán, chồng chéo cần được pháp điển hóa đưa vào luật để nâng cao tính pháp lý và thuận lợi cho việc triển khai thực hiện.

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót của báo chí và nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về báo chí, Bộ Chính trị đã có các Thông báo số 162-TB/TW, số 41-TB/TW và Thông báo số 68-TB/TW về một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí; Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 37/2006/CT-TTg ngày 29/11/2006 về việc thực hiện kết luận của Bộ Chính trị về một số biện pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí, trong đó giao cho Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) “tiến hành tổng kết việc thi hành Luật Báo chí hiện hành để có kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung phù hợp”. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khoá X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới đã xác định nhiệm vụ: “Nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Luật báo chí và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan”.

Từ những lý do trên và để triển khai thi hành Hiến pháp 2013, Luật báo chí cần được sửa đổi, bổ sung toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và quản lý hoạt động báo chí trong tình hình mới.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU XÂY DỰNG LUẬT BÁO CHÍ

1. Báo chí là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, là diễn đàn của nhân dân. Báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Do đó, Luật báo chí phải nhằm đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí; phát huy tối đa những mặt tích cực, khắc phục tối đa những thiếu sót, khuyết điểm trong hoạt động báo chí; phát triển báo chí đi đôi với quản lý tốt báo chí.

2. Đảm bảo quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; cơ chế thực thi bảo đảm không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

3. Thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng về báo chí được thể hiện ở các văn bản: Chỉ thị 22-CT/TW, Thông báo số 162-TB/TW, Thông báo số 41-TB/TW, Thông báo số 68-TB/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị trong các văn bản số 7959-CV/VPTW ngày 23/5/2014 và văn bản số 9137-CV/VPTW ngày 18/11/2014; cụ thể hóa đầy đủ, chính xác cương lĩnh của Đảng và quy định của Hiến pháp năm 2013.

4. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về báo chí, trên cơ sở pháp điển hóa những quy định pháp luật về báo chí hiện hành.

5. Bảo đảm tính khả thi của các quy định pháp luật về báo chí trong điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội và hoạt động báo chí ở Việt Nam.

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT BÁO CHÍ

 Luật báo chí năm 1989 gồm 7 chương, 31 điều; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí năm 1999 đã bổ sung 6 điều và bỏ 1 điều. Sau khi sửa đổi, bổ sung năm 1999, Luật báo chí có 36 điều.

Luật báo chí năm 2016 gồm 6 chương với 61 điều (tăng 25 điều), trong đó có 32 điều xây dựng mới, 29 điều sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật báo chí hiện hành, cụ thể như sau:

– Chương I: Những quy định chung, gồm 9 điều (từ Điều 1 đến Điều 9)

– Chương II: Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, gồm 4 điều (từ Điều 10 đến Điều 13)

– Chương III: Tổ chức báo chí, gồm 15 điều (từ Điều 14 đến Điều 28)

+ Mục 1: Cơ quan chủ quan báo chí, gồm 2 điều (Điều 14 và Điều 15)

+ Mục 2: Cơ quan báo chí, gồm 7 điều (từ Điều 16 đến Điều 22)

+ Mục 3: Người đứng đầu cơ quan báo chí, gồm 2 Điều (Điều 23 và Điều 24)

+ Mục 4: Nhà báo, gồm 4 điều (từ Điều 25 đến Điều 28)

– Chương IV: Hoạt động báo chí, gồm

+ Mục 1: Thực hiện thêm loại hình, sản phẩm báo chí, liên kết trong hoạt động báo chí, gồm 9 điều (từ Điều 29 đến Điều 37)

+ Mục 2: Thông tin trên báo chí, gồm 10 điều (từ Điều 28 đến Điều 47)

+ Mục 3: In, phát hành và truyền dẫn phát sóng, gồm 4 điều (từ Điều 48 đến Điều 51)

+ Mục 4: Lưu chiểu báo chí, gồm 2 điều (Điều 52 và Điều 53)

+ Mục 5: Hợp tác quốc tế trong hoạt động báo chí, gồm 3 điều (từ Điều 54 đến Điều 56)

– Chương V: Khen thưởng, thanh tra và xử lý vi phạm trong hoạt động báo chí, gồm 3 điều (từ Điều 57 đến Điều 59)

– Chương VI: Điều khoản thi hành, gồm 2 điều (Điều 60 và Điều 61)

Kết cấu các chương của Luật báo chí năm 2016 đã bỏ chương quản lý nhà nước về báo chí, thay đổi kết cấu chương III (Nhiệm vụ quyền hạn của báo chí), chương IV (Tổ chức báo chí và nhà báo) của Luật báo chí 1999 thành chương III (Tổ chức báo chí) và chương IV (Hoạt động báo chí) trong Luật báo chí năm 2016.

Luật báo chí năm 2016 đã pháp điển hóa quy định tại các Nghị định của Chính phủ để đưa vào luật, đồng thời bổ sung một số quy định mới để điều chỉnh hoạt động báo chí, cụ thể là các quy định về: Chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí; hoạt động hợp tác của báo chí Việt Nam với nước ngoài; hoạt động báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam; bảo vệ nội dung các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, báo điện tử; phản hồi thông tin…

IV. NHỮNG NỘI DUNG MỚI CỦA LUẬT

1. Về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy địnhQuyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Điều 25 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định các nguyên tắc thực hiện quyền tự do báo chí: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Triển khai quy định của Hiến pháp 2013, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí và để hoạt động báo chí phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế- xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay, đối tượng được phép ra báo chí không bao gồm tư nhân. Công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình thông qua báo chí, công dân có quyền liên kết với cơ quan báo chí để hoạt động báo chí theo quy định. Báo chí có trách nhiệm truyền tải tiếng nói của người dân, bảo đảm quyền tự do ngôn luận của họ.

Luật báo chí năm 2016 đã kết cấu Chương II với 04 điều quy định cụ thể về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, trong đó:

– Quyền tự do báo chí của công dân: Điều 10 quy định công dân có quyền: Sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báo chí, liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí, in và phát hành báo in.

– Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân: Điều 11 quy định công dân có quyền: Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội; tổ chức chính trị – xã hội, nghề nghiệp; tổ chức xã hội; tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác.

– Trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân quy định tại Điều 12:

+ Đăng, phát kiến nghị, phê bình, tin, bài, ảnh và tác phẩm báo chí khác của công dân phù hợp với tôn chỉ, mục đích và không có nội dung quy định tại các khoản từ 1 đến 10 Điều 9 của Luật báo chí; trong trường hợp không đăng, phát phải trả lời và nêu rõ lý do khi có yêu cầu.

+ Trả lời hoặc yêu cầu tổ chức, người có thẩm quyền trả lời bằng văn bản hoặc trả lời trên báo chí về kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến.

– Trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân quy định tại Điều 13:

+ Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

+ Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.

2. Về những hành vi bị chấm trong hoạt động báo chí

Điều 9 Luật báo chí năm 2016 đã quy định cụ thể, rõ ràng hơn một số hành vi so với Luật báo chí hiện hành, có bổ sung một số hành vi như:

– Thông tin quy kết tội danh khi chưa có bản án của tòa án;

– Thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em;

– Thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng…

3. Về đối tượng thành lập cơ quan báo chí

Điều 14 Luật báo chí năm 2016 quy định:

– Cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam được thành lập cơ quan báo chí.

– Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật giáo dục đại học; tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật khoa học và công nghệ; bệnh viện cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên được thành lập tạp chí khoa học.

Như vậy, ngoài các đối tượng thành lập cơ quan báo chí theo luật hiện hành, Luật báo chí năm 2016 đã bổ sung một số đối tượng được thành lập tạp chí khoa học, như: Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật giáo dục đại học; tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật khoa học và Công nghệ; bệnh viện từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc tương đương trở lên.

Quy định trên cho phép các cơ sở giáo dục và tổ chức khoa học và công nghệ thuộc loại hình tư thục, có đầu tư của nước ngoài được phép ra tạp chí khoa học.

4. Về giấy phép trong hoạt động báo chí

– Luật báo chí năm 2016 đã bỏ quy định thời hạn hiệu lực của giấy phép hoạt động báo chí (pháp luật báo chí hiện hành quy định thời hạn hiệu lực là 10 năm)

– Khoản 4 Điều 18 quy định: Sau 03 tháng đối với báo in và báo điện tử, 09 tháng đối với báo nói, báo hình, kể từ ngày giấy phép hoạt động báo chí có hiệu lực, nếu cơ quan báo chí không được thành lập hoặc không có sản phẩm báo chí thì giấy phép hết hiệu lực. Bộ Thông tin và Truyền thông ra quyết định thu hồi giấy phép.

Như vậy, so với pháp luật báo chí hiện hành thì thời hạn hết hiệu lực giấy phép khi cơ quan báo chí không được thành lập hoặc không có sản phẩm báo chí đối với báo nói, báo hình tăng từ 03 tháng lên 09 tháng, cho phù hợp với điều kiện của hoạt động báo nói, báo hình.

– Về thay đổi cơ quan chủ quản báo chí:

Thực tế có nhiều trường hợp cơ quan báo chí có sự thay đổi cơ quan chủ quản, nhất là sắp tới triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí, việc thay đổi cơ quan chủ quản sẽ diễn ra nhiều mà luật hiện hành chưa quy định cụ thể. Luật báo chí năm 2016 đã bổ sung quy định về thay đổi cơ quan chủ quản báo chí tại Điều 19:

Trường hợp thay đổi cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản được ghi trên giấy phép có văn bản thông báo chấm dứt hoạt động báo chí gửi Bộ Thông tin và Truyền thông; cơ quan, tổ chức tiếp nhận cơ quan báo chí làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo chí theo quy định tại Điều 18 của Luật này.

– Về thủ tục hành chính:

Các thủ tục hành chính quy định trong Luật báo chí năm 2016 đã được cân nhắc rất kỹ lưỡng về sự cần thiết để phục vụ công tác quản lý nhà nước, không làm hạn chế quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân có tham gia hoặc liên quan đến hoạt động báo chí.

Theo quy định của pháp luật về báo chí hiện hành, các thủ tục hành chính được quy định trong Luật báo chí, các Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư liên tịch, Thông tư, Quy chế liên quan đến lĩnh vực báo chí, với 40 thủ tục hành chính gồm: cấp phép, chấp thuận, cấp thẻ nhà báo, giấy chứng nhận đăng ký…

Thực hiện quy định của Hiến pháp 2013, Luật báo chí năm 2016 đã pháp điển hóa các quy định trong các văn bản liên quan, quy định toàn bộ các thủ tục hành chính trong lĩnh vực báo chí trong luật; bỏ một số thủ tục hành chính không còn phù hợp như:

+ Chấp thuận việc đăng tin, bài, phát biểu trên báo chí của cơ đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài.

+ Giấy chứng nhận đăng ký chương trình, kênh chương trình phát thanh, truyền hình liên kết

+ Giấy phép sản xuất chương trình đặc biệt

+ Giấy phép sản xuất chương trình phụ

+ Giấy phép phát hành báo chí, phát sóng chương trình phát thanh, truyền hình Việt Nam ra nước ngoài

+ Giấy phép in báo chí, phát sóng chương trình phát thanh, truyền hình Việt Nam ở nước ngoài

Cử nhà báo, phóng viên ra nước ngoài

+ Thuê chuyên gia, cộng tác viên nước ngoài

+  Thành lập văn phòng đại diện của cơ quan báo chí ở nước ngoài

+ Chấp thuận việc hợp tác của cơ quan báo chí, tổ chức hội nhà báo với nước ngoài

Đồng thời Luật cũng quy định, việc thay đổi về trụ sở chính, nơi in, thời gian phát hành, phạm vi phát hành chủ yếu chỉ thông báo với cơ quan quản lý nhà nước về báo chí mà không cần sự chấp thuận như pháp luật hiện hành.

5. Loại hình hoạt động và nguồn thu của cơ quan báo chí

Căn cứ từ thực tiễn hoạt động của các cơ quan báo chí, để đảm bảo cho các cơ quan báo chí phát triển, Luật quy định: cơ quan báo chí hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu; tạp chí khoa học hoạt động phù hợp với loiạ hình của cơ quan chủ quản.

Luật báo chí năm 2016 quy định mở hơn Luật báo chí hiện hành về hoạt động kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí, thể hiện tại điểm c khoản 2 Điều 21 quy định: Nguồn thu của cơ quan báo chí gồm thu từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí, các đơn vị trực thuộc cơ quan báo chí.

6. Văn phòng đại diện của cơ quan báo chí

Về điều kiện của Trưởng văn phòng đại diện và phóng viên thường trú độc lập không có gì khác so với pháp luật báo chí hiện hành.

Điều kiện về trụ sở văn phòng đại diện của cơ quan báo chí tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Luật báo chí năm 2016 chỉ quy định có trụ sở để đặt văn phòng đại diện, pháp luật báo chí hiện hành quy định phải có trụ sở đặt văn phòng đại diện ổn định từ 3 năm trở lên.

Pháp luật báo chí hiện hành quy định việc đặt văn phòng đại diện, phóng viên thường trú phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh, Luật báo chí năm 2016 quy định: Trước khi bắt đầu hoạt động 15 ngày, cơ quan báo chí có đủ điều kiện và có nhu cầu đặt văn phòng đại diện tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính một bộ hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan báo chí đặt văn phòng đại diện để thông báo.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra các điều kiện hoạt động của văn phòng đại diện; trường hợp không đủ điều kiện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản yêu cầu cơ quan báo chí chấm dứt hoạt động của văn phòng đại diện và xử lý theo quy định của pháp luật.

7. Về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo

Cùng với việc quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ đối với nhà báo trong luật, để nêu cao vai trò của nhà báo, trách nhiệm công dân của người làm báo, Luật báo chí năm 2016 còn bổ sung, luật hóa, quy định bắt buộc về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, trong đó quy định Hội nhà báo Việt Nam có nhiệm vụ ban hành và tổ chức thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo; nhà báo có nghĩa vụ tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo và sẽ bị thu hồi thẻ nhà báo khi vi phạm về đạo đức nghề nghiệp gây hậu quả nghiêm trọng.

8. Về quyền tác nghiệp của báo chí, nhà báo

Ngoài những quy định của Luật báo chí hiện hành, Luật báo chí lần này đã quy định cụ thể về trách nhiệm cung cấp thông tin cho báo chí của cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm; những thông tin cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyền từ chối cung cấp thông tin cho báo chí.

Để bảo vệ nguồn tin báo chí và quyền tác nghiệp của nhà báo, so với Luật báo chí hiện hành, Luật báo chí mới đã quy định giới hạn việc cơ quan báo chí, nhà báo chỉ phải tiết lộ người cung cấp thông tin khi có yêu cầu bằng văn bản của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Đồng thời, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên có trách nhiệm tổ chức bảo vệ người cung cấp thông tin sau khi tên của họ được tiết lộ.

9. Về điều kiện cấp thẻ nhà báo

Điểm c khoản 1 Điều 27 Luật báo chí năm 2016 quy định: Đối với trường hợp cấp thẻ lần đầu, phải có thời gian công tác liên tục tại cơ quan báo chí đề nghị cấp thẻ từ 02 năm trở lên tính đến thời điểm xét cấp thẻ, trừ tổng biên tập tạp chí khoa học và những trường hợp khác theo quy định của pháp luật (pháp luật báo chí hiện hành quy định là 03 năm).

10. Về liên kết trong hoạt động báo chí

Từ thực tiễn hoạt động báo chí, nhằm tạo điều kiện cho báo chí phát triển, Luật báo chí năm 2016 đã bổ sung quy định về liên kết trong hoạt động báo chí tại Điều 37, trong đó:

– Đối tượng liên kết: Cơ quan báo chí được phép liên kết trong hoạt động báo chí với cơ quan báo chí khác, pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết theo quy định của pháp luật.

 Người đứng đầu cơ quan báo chí chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động liên kết trong lĩnh vực báo chí theo quy định của pháp luật.

– Lĩnh vực liên kết: Cơ quan báo chí được phép liên kết trong các lĩnh vực sau đây:

+ Thiết kế, trình bày, in, quảng cáo, phát hành báo chí và nội dung thông tin quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản này;

+ Khai thác hoặc mua bản quyền về măng sét, nội dung các ấn phẩm báo chí thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, thể thao, giải trí, quảng cáo và thông tin kinh tế của báo chí nước ngoài để xuất bản tại Việt Nam;

+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép liên kết khai thác hoặc mua toàn bộ bản quyền về măng sét, nội dung các ấn phẩm báo chí hợp pháp của Việt Nam để xuất bản tại nước ngoài; 

+ Sản xuất chương trình, kênh phát thanh, kênh truyền hình thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, thể thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội;

+ Sản xuất các sản phẩm báo in, báo điện tử thuộc các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, thể thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội.

– Thời lượng liên kết trong phát thanh, truyền hình:

+ Các chương trình liên kết trên kênh phát thanh, kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin, tuyên truyền thiết yếu theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông và kênh thời sự – chính trị tổng hợp không vượt quá ba mươi phần trăm tổng thời lượng chương trình phát sóng lần thứ nhất của kênh này.

+ Trường hợp cơ quan báo nói, báo hình có hoạt động liên kết sản xuất toàn bộ kênh phát thanh, kênh truyền hình thì số kênh liên kết không vượt quá ba mươi phần trăm tổng số kênh phát thanh, kênh truyền hình được cấp giấy phép sản xuất.

11. Về hoạt động hợp tác của báo chí Việt Nam với nước ngoài

Luật báo chí năm 2016 đã bỏ quy định phải xin phép cơ quan có thẩm quyền đối với việc phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí ra nước ngoài, thuê chuyên gia, cộng tác viên nước ngoài; cử nhà báo hoạt động báo chí ở nước ngoài; thành lập văn phòng đại diện ở nước ngoài; hoạt động hợp tác với nước ngoài.

12. Về cải chính trên báo chí

Nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị báo chí thông tin sai sự thật, Luật báo chí năm 2016 đã bổ sung một số quy định mới về cải chính như:

– Báo chí điện tử, ngoài việc đăng, phát lời cải chính, xin lỗi còn phải gỡ bỏ ngay thông tin sai sự thật đã đăng, phát.

– Vị trí đăng phát thông tin cải chính, xin lỗi:

+ Đăng, phát tại trang hai đối với báo in, trang cuối đối với tạp chí in, chuyên mục riêng tại trang chủ đối với báo điện tử với cùng một kiểu chữ, cỡ chữ mà báo chí đã đăng, phát thông tin;

+ Đăng, phát đúng chuyên mục, giờ phát sóng, số lần phát sóng đối với báo nói, báo hình mà báo chí đã đăng, phát thông tin.

– Nội dung cải chính, xin lỗi:

Khi đăng, phát thông tin cải chính, xin lỗi, cơ quan báo chí phải thể hiện đầy đủ các nội dung sau đây:

+ Tiêu đề: “Thông tin cải chính, xin lỗi”;

+ Tên tác phẩm báo chí, tên chuyên mục, số báo, ngày, tháng, năm đã đăng, phát phải cải chính;

+ Những thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân đã đăng, phát trong tác phẩm báo chí và nội dung thông tin được cải chính.

– Thời điểm đăng, phát cải chính, xin lỗi:

+ Việc đăng, phát cải chính, xin lỗi của báo điện tử được thực hiện ngay khi nhận được văn bản kết luận hoặc tự phát hiện vi phạm; thông tin cải chính, xin lỗi phải được lưu giữ trên báo ít nhất là 07 ngày kể từ ngày đăng, phát cải chính, xin lỗi;

+ Việc đăng, phát cải chính, xin lỗi trên báo in, báo nói, báo hình phải được thực hiện trong thời hạn 02 ngày đối với báo ngày, báo nói, báo hình; trong số ra gần nhất đối với báo tuần, tạp chí, tính từ ngày cơ quan báo chí nhận được văn bản kết luận hoặc tự phát hiện vi phạm. Đối với tạp chí xuất bản trên 30 ngày một kỳ thì phải có văn bản trả lời ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân và phải đăng trong số ra gần nhất;

+ Cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử tổng hợp đã đăng, phát thông tin của cơ quan báo chí khác có nội dung phải cải chính, xin lỗi cũng phải thực hiện đăng lại nội dung cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí vi phạm.

Cơ quan báo chí đã đăng, phát nội dung thông tin vi phạm, sau khi thực hiện cải chính, xin lỗi phải có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan báo chí và trang thông tin điện tử tổng hợp có thỏa thuận về việc sử dụng tin, bài của báo mình để thực hiện việc đăng lại lời cải chính, xin lỗi.

13. Về xử lý vi phạm

Luật báo chí năm 2016 đã bổ sung quy định mới về xử lý vi phạm như: Cơ quan báo chí bị thu hồi giấy phép hoạt động báo chí, giấy phép xuất bản thêm ấn phẩm báo chí, phụ trương, sản xuất thêm kênh phát thanh, kênh truyền hình, mở chuyên trang của báo điện tử và cơ quan, tổ chức bị thu hồi giấy phép xuất bản đặc san, bản tin khi đăng, phát thông tin có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 9 của Luật này gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Ngoài ra Luật báo chí năm 2016 đã pháp điển hóa quy định tại các Nghị định của Chỉnh phủ để đưa vào luật, đồng thời bổ sung một số quy định mới để điều chỉnh hoạt động báo chí, cụ thể là các quy định về: Chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí ; thay đổi cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí ; hoạt động hợp tác của báo chí Việt Nam với nước ngoài ; hoạt dộng báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam ; bảo vệ nội dung các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, báo điện tử, phản hồi thông tin….

V. CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN VÀ DỰ BÁO TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH CỦA LUẬT BÁO CHÍ ĐẾN NGƯỜI DÂN VÀ XÃ HỘI

So với quy định pháp luật báo chí hiện hành, Luật báo chí năm 2016 quy định cởi mở hơn về các điều kiện hoạt động, thủ tục hành chính do vậy các đối tượng chịu sự điều chỉnh không cần thiết phải chuẩn bị điều kiện về nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất để thực hiện luật.

Đồng thời, việc xây dựng Luật báo chí năm 2016 đã đáp ứng các mục tiêu đề ra, do đó sẽ là hành lang pháp lý quan trọng để báo chí phát triển và nâng cao hiệu lực công tác quản lý nhà nước về báo chí, đóng góp ngày càng xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

VI. TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT BÁO CHÍ

1. Phổ biến, quán triệt nội dung Luật Báo chí

– Bộ Thông tin và Truyền thông đã đăng tải toàn văn Luật báo chí năm 2016 trên Cổng thông tin điện tử của Bộ và trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.

– Bộ Thông tin và Truyền thông đã chỉ đạo các cơ quan báo chí tăng cường đăng tải các nội dung cơ bản, điểm mới của Luật báo chí năm 2016.

– Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ biên soạn tài liệu, xuất bản sách về Luật báo chí để phát cho các đối tượng liên quan trong quý III/2016.

– Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ tổ chức quán triệt, tập huấn, phổ biến chuyên sâu về nội dung của Luật báo chí cho đội ngũ cán bộ, công chức quản lý báo chí và lãnh đạo, phóng viên, nhà báo và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thời gian 06 tháng cuối năm 2016 và thời gian tiếp theo.

2. Ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành

Luật báo chí năm 2016 đã giao cho Chính phủ quy định 07 nội dung cụ thể tại:

 + Điểm a, khoản 3, Điều 33 về biên tập kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền.

+ Khoản 5, Điều 36 về thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

+ Khoản 5, Điều 38 về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước.

+ Khoản 5, Điều 50 về đăng ký cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền tại Việt Nam.

+ Khoản 4, Điều 51 về cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền.          + Khoản 4, Điều 52 về  lưu chiểu điện tử đối với báo nói, báo hình và báo điện tử độc lập với cơ quan báo chí.

+ Khoản 12, Điều 56 về hoạt động báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.

 Với 07 nội dung trên thì có 05 nội dung của Luật đã được quy định chi tiết tại các Nghị định 06/2016/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình (điểm a, khoản 3, Điều 33; khoản 5, Điều 50; khoản 4, Điều 51); Nghị định 88/2012/NĐ-CP Quy định về hoạt động thông tin, báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam (khoản 12, Điều 56) và Nghị định 72/2013/NĐ-CP quy định về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng (khoản 5, Điều 36)   và các quy định này vẫn còn phù hợp, không trái với quy định tại Luật báo chí mới ban hành, do đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã kiến nghị tiếp tục áp dụng các văn bản nêu trên và đến thời điểm cần thiết sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.

– Bộ Thông tin và Truyền thông đã đăng ký với Chính phủ xây dựng mới 02 Nghị định quy định về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (quy định chi tiết nội dung nêu tại khoản 5, Điều 38) và Nghị định về lưu chiểu điện tử đối với báo nói, báo hình và báo điện tử độc lập với cơ quan báo chí (quy định chi tiết nội dung nêu tại khoản 4, Điều 52), thời gian trình dự kiến vào quý III/2017.

– Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ ban hành 03 Thông tư quy định về trình tự thủ tục hướng dẫn Luật báo chí gồm:

+ Thông tư quy định trình tự, thủ tục việc cấp phép báo in, báo điện tử.

+  Thông tư quy định trình tự, thủ tục việc cấp phép báo nói, báo hình.

+ Thông tư hướng dẫn cấp, đổi, cấp lại và thu hồi thẻ nhà báo.

– Bộ Thông tin và Truyền thông có văn bản đề nghị Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Thông tư quy định chế độ thù lao cho người đọc, nghe, xem để kiểm tra báo chí lưu chiểu./.

>>>> Các bài viết quan tâm khác: Đề cương giới thiệu Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm


𝑪𝒐̂𝒏𝒈 𝒕𝒚 𝑳𝒖𝒂̣̂𝒕 𝒉𝒐̛̣𝒑 𝒅𝒂𝒏𝒉 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 (𝑽𝒊𝒏𝒂𝒍𝒂𝒘 𝑭𝒊𝒓𝒎)

Với slogan: “Là điểm tựa của niềm tin”

??Phương châm làm việc: “Đừng bận tâm vì các vấn đề pháp lý của Quý khách hàng chính là công việc của chúng tôi”.
??Vinalaw luôn hoạt động với tôn chỉ đề cao pháp luật, uy tín, trung thực, bảo đảm lợi ích cao nhất của khách hàng trước pháp luật.
———————–
? Call: 028.629.119.20 (Liên hệ tư vấn miễn phí).
———————–
? Số 17 Trần Khánh Dư, Phường Tân Định, Quận 1, Hồ Chí Minh.
? 𝑭𝒂𝒄𝒆𝒃𝒐𝒐𝒌: fb.com/Vinalaw.vn
? 𝑾𝒆𝒃𝒔𝒊𝒕𝒆: www.vinalaw.vn
? 𝑬𝒎𝒂𝒊𝒍: info@vinalaw.vn