ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢO ĐẢO > CÔNG TY LUẬT HỢP DANH VIỆT NAM

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢO ĐẢO

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

 

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM

 

 

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU

LUẬT TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢO ĐẢO

Ngày 25/6/2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Ngày 08/7/2015, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Riêng quy định tại Khoản 1 Điều 79 (Điều khoản chuyển tiếp) được áp dụng từ thời điểm Luật được công bố (ngày 08/7/2015).

 

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

Việt Nam có chiều dài đường bờ biển trên 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng gấp khoảng ba lần diện tích đất liền, chứa đựng nhiều hệ sinh thái quan trọng và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng. Biển có tính chất đặc thù, là không gian liên thông; tài nguyên biển có tính chất chia sẻ; chất lượng môi trường biển bị chi phối rất mạnh bởi các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển, nhất là ở khu vực ven bờ…

Trong những năm qua, việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, do tài nguyên biển và hải đảo chủ yếu đang được quản lý theo ngành, lĩnh vực nên việc khai thác, sử dụng chưa dựa trên việc phân tích các chức năng của mỗi vùng biển một cách tổng thể; còn thiếu sự gắn kết, hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên trên cùng một vùng biển. Mặt khác, các hoạt động trên biển có mối liên hệ, tác động nhất định đến nhau, cùng với tính chất liên thông của biển thì trong một số trường hợp, quản lý theo ngành, lĩnh vực với đặc điểm luôn tối đa hóa lợi ích của ngành, lĩnh vực mình mà không xem xét vấn đề khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo một cách tổng thể đã làm hạn chế sự phát triển chung, làm suy thoái nhiều loại tài nguyên, nhất là tài nguyên tái tạo; tình trạng ô nhiễm môi trường biển và hải đảo có chiều hướng gia tăng; nhiều hệ sinh thái biển và hải đảo quan trọng đã bị tổn thương nghiêm trọng, dẫn tới sự nghèo nàn của nguồn lợi thủy sản. Để khắc phục những bất cập nảy sinh trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo theo ngành, lĩnh vực, cần áp dụng một phương thức mới để quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, đó là phương thức quản lý tổng hợp. Phương thức quản lý này có vai trò điều chỉnh hoạt động của con người để bảo vệ tính toàn vẹn về chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái, duy trì và cải thiện năng suất của hệ sinh thái, qua đó, bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, môi trường biển và hải đảo được bảo vệ; hài hòa được lợi ích của các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Tính tổng hợp trong quản lý tài nguyên biển và hải đảo được thể hiện trên 3 phương diện:

– Tổng hợp theo tính hệ thống: mỗi vùng biển được coi là một hệ thống tài nguyên thống nhất, được quản lý theo phương thức không cắt rời, chia nhỏ hay xem xét các thành phần của nó một cách riêng biệt để đảm bảo tính toàn vẹn; đồng thời, xem xét vùng biển là hệ thống tương tác giữa tự nhiên và xã hội, giữa các yếu tố sinh học và phi sinh học.

– Tổng hợp theo chức năng: mỗi vùng biển là một hệ thống nhiều chức năng, cần được xem xét sử dụng cho phù hợp với các chức năng đó và trong giới hạn chịu tải của hệ thống, tiểu hệ thống trong vùng.

– Tổng hợp về phương thức quản lý: phương thức quản lý theo chiều dọc (các cấp) và chiều ngang (các bên liên quan) để đảm bảo tính đa ngành, đa cấp; đồng thời, phải có cơ chế liên kết chặt chẽ giữa các chính sách quản lý và hành động quản lý.

Quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo với phương châm không làm thay quản lý ngành, lĩnh vực mà đóng vai trò định hướng, điều phối các hoạt động quản lý ngành, lĩnh vực; giúp khắc phục các xung đột, mâu thuẫn trong quản lý theo ngành, lĩnh vực; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái biển, hải đảo; thống nhất các hoạt động quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo phát triển bền vững biển và hải đảo.

Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo theo phương thức tổng hợp đang được áp dụng rất phổ biến tại nhiều nước trên thế giới. Thực tiễn kinh nghiệm của hầu hết các quốc gia có biển trên thế giới cho thấy phương thức quản lý này là phù hợp và bảo đảm hiệu quả nhất. Nhiều quốc gia có biển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Australia, Indonexia, Nam Phi,…. đã thể chế hóa phương thức quản lý này bằng các đạo luật hoặc chính sách khung có tính pháp lý cao để triển khai thực hiện.

Phương thức quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo không phải là hoàn toàn mới ở Việt Nam. Ngay từ năm 2000, tại Đà Nẵng đã thực hiện dự án thí điểm quản lý tổng hợp vùng bờ. Từ năm 2000 tới năm 2006, Chính phủ Hà Lan đã hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thực hiện dự án quản lý tổng hợp vùng bờ thí điểm tại Nam Định, Thừa Thiên – Huế và Bà Rịa – Vũng Tàu. Công tác này tiếp tục được triển khai trên diện rộng theo Quyết định số 158/2007/QĐ-TTg ngày 09/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Ngày 06/3/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Ngày 21/6/2012, tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIII cũng đã thông qua Luật biển Việt Nam, trong đó tại chương Phát triển kinh tế biển đã quy định một số công cụ để quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo như: Quy hoạch sử dụng biển, giao khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên…

Tuy nhiên, thực tiễn công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo trong thời gian qua cho thấy vẫn còn những tồn tại, bất cập, cụ thể như sau:

– Nghị định số 25/2009/NĐ-CP quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo chưa thể chế hóa được đầy đủ nội hàm của công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo do tính pháp lý thấp nên không thể định hướng, điều phối được các hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên đã được các luật chuyên ngành quy định. Luật biển Việt Nam mới chỉ đề cập đến một số nội dung liên quan đến quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, nhiều nội dung quy định còn thiếu, chưa đầy đủ và đồng bộ.

– Thiếu các quy định để quản lý thống nhất các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; định hướng, điều phối, lồng ghép các hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể để thực hiện.

– Thiếu các cơ chế, công cụ định hướng, điều phối hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo của các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là ở vùng bờ (Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ, Chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ,…) nên dẫn đến tình trạng một số chức năng của vùng bờ bị khai thác quá mức, nguy cơ gia tăng mâu thuẫn giữa các ngành, các cấp, làm cho tài nguyên biển và hải đảo dần bị suy thoái, tình trạng ô nhiễm môi trường biển và hải đảo tiếp tục diễn biến phức tạp.

– Hải đảo là đối tượng địa lý gắn liền với biển, có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế nhưng chưa có quy định cụ thể để quản lý tài nguyên hải đảo.

– Công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo, đặc biệt là hoạt động phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường và hải đảo nhằm bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái biển và hải đảo, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường biển, phục hồi môi trường biển và hải đảo còn nhiều bất cập. Luật bảo vệ môi trường năm 2014 có một chương với 3 điều quy định những nội dung mang tính nguyên tắc chung về bảo vệ môi trường biển và hải đảo (chương V), các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, nhận chìm, ứng phó sự cố môi trường biển còn chưa cụ thể với đặc thù của biển và hải đảo.

– Hoạt động quan trắc, giám sát tổng hợp, hệ thống thông tin về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo phục vụ tích hợp, trao đổi thông tin, dữ liệu chưa được thể chế hóa và tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, vận hành, quản lý đồng bộ. Các dữ liệu chuyên ngành, đặc biệt là số liệu, thông tin về điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo bị phân tán, thiếu tính gắn kết, đồng bộ và chưa được tích hợp thành cơ sở dữ liệu chung thống nhất, hiện đại để phục vụ hoạch định chính sách phát triển kinh tế biển, bảo đảm an ninh, quốc phòng, quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Những tồn tại, bất cập nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó, sự thiếu đồng bộ và đầy đủ của hệ thống văn bản pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo là nguyên nhân quan trọng.

Nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển một cách đầy đủ theo yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trên quan điểm đã được nhấn mạnh tại Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường thì việc sửa đổi và nâng tầm pháp lý những quy định hiện hành về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, bổ sung các quy định còn thiếu để xây dựng và ban hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là rất cần thiết và là yêu cầu thực tiễn khách quan nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Trên quan điểm bảo đảm sự phù hợp với Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc về Luật biển, Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được xây dựng theo hướng rà soát lại Nghị định số 25/2009/NĐ-CP, các luật chuyên ngành có liên quan và các nội dung mà Luật biển Việt Nam chưa quy định và trên cơ sở yêu cầu của công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, thực tiễn thực hiện công tác này trong thời gian qua để xác định tính hợp lý và các nội dung cần thiết cần quy định trong Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

 

II. QUAN ĐIỂM, NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO, CÁC CHÍNH SÁCH LỚN ĐƯỢC THỂ CHẾ HÓA TRONG LUẬT

1. Quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo xây dựng Luật

a) Quán triệt và thể chế hoá chính sách, tư tưởng chỉ đạo của Đảng tại Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, hiệu quả để quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

b) Tài nguyên biển và hải đảo phải được quản lý tổng hợp, thống nhất, khai thác, sử dụng bền vững và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển bền vững kinh tế – xã hội trước mắt và lâu dài; bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

c) Phải giải quyết cơ bản các vấn đề mâu thuẫn, chồng chéo trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các bên khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo trên quan điểm phát triển bền vững; bãi bỏ các quy định bất cập; bổ sung quy định về những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; những vấn đề đã có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn thì phải quy định chi tiết ngay trong nội dung của Luật.

d) Các quy định của Luật phải bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, không chồng chéo, mâu thuẫn với các luật chuyên ngành và phù hợp với các điều ước quốc tế liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo mà Việt Nam là thành viên; rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, có tính khả thi và gắn với yêu cầu phân cấp, cải cách nền hành chính nhà nước, hội nhập quốc tế.

2. Các chính sách lớn được thể chế hoá trong Luật

a) Nhà nước bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả theo chiến lược, quy hoạch phục vụ phát triển bền vững kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.

b) Nhà nước đầu tư, đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, ưu tiên công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học nhằm phát hiện các nguồn tài nguyên mới, tại các hải đảo, vùng biển sâu, biển xa và vùng biển quốc tế liền kề, có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

c) Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, hợp tác để điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

d) Kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong việc kiểm soát ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường biển, biến đổi khí hậu, quản lý chặt chẽ các hoạt động nhận chìm ở biển.

đ) Đầu tư nâng cao năng lực quan trắc, giám sát, dự báo về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; thiết lập hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tổng hợp, hiệu quả về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo phục vụ phát triển kinh tế biển, quốc phòng, an ninh.

e) Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác hợp tác quốc tế trong quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia.

g) Tăng cường phối hợp trong kiểm tra, giám sát hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

 

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT

Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo gồm có 10 chương 81 điều, cụ thể như sau:

1. Chương I. Những quy định chunggồm 8 điều (từ Điều 1 đến Điều 8)

Chương này bao gồm các quy định về: phạm vi điều chỉnh (Điều 1); đối tượng áp dụng (Điều 2); giải thích từ ngữ (Điều 3); chính sách của Nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 4); nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo (Điều 5); tham gia của cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo (Điều 6); Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam (Điều 7); những hành vi bị nghiêm cấm (Điều 8).

2. Chương II. Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảogồm 3 điều (từ Điều 9 đến Điều 11)

Chương này bao gồm các quy định về: nguyên tắc, căn cứ lập và kỳ chiến lược (Điều 9); nội dung của chiến lược (Điều 10); lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện chiến lược (Điều 11).

3. Chương III. Điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảogồm 2 mục, 10 điều (từ Điều 12 đến Điều 21)

a) Mục 1: Điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, bao gồm các quy định về:

Yêu cầu đối với hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 12); hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 13); Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 14); trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 15); Thống kê tài nguyên biển và hải đảo (Điều 16).

b) Mục 2: Nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, bao gồm các quy định về:

Quy định chung về hoạt động nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 17); Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 18); cấp phép nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam cho tổ chức, cá nhân nước ngoài và quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam (Điều 19 và Điều 20); Công bố và chuyển giao thông tin, kết quả nghiên cứu khoa học của tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam (Điều 21).

4. Chương IV. Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờgồm 3 mục, 17 điều (từ Điều 22 đến Điều 38)

a) Mục 1: Vùng bờ và hành lang bảo vệ bờ biển, bao gồm các quy định về:

Phạm vi vùng bờ (Điều 22); hành lang bảo vệ bờ biển (Điều 23); các hoạt động bị nghiêm cấm và hạn chế trong hành lang bảo vệ bờ biển (Điều 24 và Điều 25);

b) Mục 2: Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ,  bao gồm các quy định về:

Nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch (Điều 26); phạm vi, nội dung, kỳ quy hoạch (Điều 27); điều chỉnh quy hoạch (Điều 28); lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch (Điều 29); lấy ý kiến và công bố quy hoạch (Điều 30); tổ chức thực hiện quy hoạch (Điều 31); mối quan hệ giữa quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ với các quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên, quy hoạch phát triển ngành, địa phương (Điều 32); nguyên tắc phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ (Điều 33).

c) Mục 3: Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ, bao gồm các quy định về:

Phạm vi, nội dung chương trình (Điều 34); nguyên tắc, căn cứ lập, điều chỉnh chương trình (Điều 35); lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh chương trình (Điều 36); lấy ý kiến và công bố chương trình (Điều 37); tổ chức thực hiện chương trình (Điều 38).

5. Chương V. Quản lý tài nguyên hải đảogồm 3 điều (từ Điều 39 đến Điều 41)

Chương này bao gồm các quy định về: yêu cầu quản lý tài nguyên hải đảo (Điều 39); lập, quản lý hồ sơ tài nguyên hải đảo (Điều 40); khai thác, sử dụng tài nguyên hải đảo (Điều 41).

6. Chương VI. Kiểm soát ô nhiễm, ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc và nhận chìm ở biểngồm 3 mục, 22 điều (từ Điều 42 đến Điều 63)

a) Mục 1: Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, bao gồm các quy định về:

Nguyên tắc, nội dung kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (Điều 42 và Điều 43); trách nhiệm điều tra, đánh giá môi trường biển và hải đảo (Điều 44); kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ các hoạt động trên biển, từ đất liền và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển xuyên biên giới (từ Điều 45 đến Điều 47); các công cụ, biện pháp để kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, cấp rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo) và đánh giá kết quả hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (từ Điều 48 đến Điều 50); báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo (Điều 51).

b) Mục 2: Ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển, bao gồm các quy định về:

Nguyên tắc ứng phó, khắc phục sự cố (Điều 52); phân cấp ứng phó sự cố (Điều 53); xác định và thông báo khu vực hạn chế hoạt động (Điều 54); tạm đình chỉ hoạt động đối với cơ sở gây sự cố (Điều 55); trách nhiệm trong ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển (Điều 56).

c) Mục 3: Nhận chìm ở biển, bao gồm các quy định về:

Yêu cầu đối với việc nhận chìm và vật, chất nhận chìm ở biển (Điều 57 và Điều 58); giấy phép nhận chìm ở biển (Điều 59); cấp, cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cho phép trả lại, thu hồi Giấy phép nhận chìm ở biển (Điều 60); quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép nhận chìm ở biển (Điều 61); kiểm soát hoạt động nhận chìm ở biển (Điều 62); nhận chìm ngoài vùng biển Việt Nam gây thiệt hại tới tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam (Điều 63).

7. Chương VII. Quan trắc, giám sát tổng hợp và hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảogồm 2 mục 7 điều (từ Điều 64 đến Điều 70)

a) Mục 1: Quan trắc, giám sát tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, bao gồm các quy định về:

Yêu cầu đối với quan trắc, giám sát tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 64); thiết lập hệ thống quan trắc, giám sát (Điều 65); tham gia các hệ thống quan trắc, giám sát biển và đại dương của khu vực, thế giới (Điều 66).

b) Mục 2: Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, bao gồm các quy định về:

Hệ thống thông tin tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 67); xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 68); lưu trữ, khai thác, sử dụng dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 69); tích hợp, trao đổi, chia sẻ dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 70).

8. Chương VIII. Hợp tác quốc tế về tài nguyên và môi trường biển và hải đảogồm 2 điều (Điều 71 và Điều 72)

Chương này bao gồm các quy định về: nguyên tắc hợp tác quốc tế về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Điều 71); hợp tác quốc tế về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo (Điều 72).

9. Chương IX. Trách nhiệm quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảogồm 6 điều (từ Điều 73 đến Điều 78)

Chương này bao gồm các quy định về: trách nhiệm quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp (Điều 73 và Điều 74); trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên (Điều 75); nguyên tắc, nội dung phối hợp trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo (Điều 76); báo cáo về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo (Điều 77); thanh tra về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo (Điều 78).

10. Chương X. Điều khoản thi hànhgồm 3 Điều (từ Điều 79 đến Điều 81)

Chương này bao gồm các quy định về: điều khoản chuyển tiếp (Điều 79); hiệu lực thi hành (Điều 80); quy định chi tiết (Điều 81).

 

IV. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

1. Chương I. Những quy định chung

a) Về phạm vi điều chỉnh:

Phạm vi điều chỉnh của Luật này là quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo Việt Nam. Trong đó, quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo là việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế, công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo là phương thức quản lý theo phương châm không làm thay quản lý ngành, lĩnh vực mà đóng vai trò điều phối, phối hợp các hoạt động quản lý ngành, lĩnh vực nhằm quản lý có hiệu quả hơn các hoạt động điều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên biển và hải đảo. Phương thức quản lý tổng hợp có vai trò điều chỉnh hoạt động của con người để bảo vệ tính toàn vẹn về chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái, duy trì và cải thiện năng suất của hệ sinh thái, qua đó, bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, môi trường biển được bảo vệ; hài hòa được lợi ích của các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Luật đã bám sát mục tiêu ban hành Luật là để quản lý có hiệu quả hơn các hoạt động điều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên biển và hải đảo trên các vùng biển của nước ta bằng phương thức quản lý tổng hợp. Do vậy, Luật chỉ tập trung quy định các công cụ, cơ chế để điều phối, phối hợp, không quy định về quản lý, khai thác, sử dụng loại tài nguyên biển cụ thể, không chồng chéo với các luật chuyên ngành mà cùng với các luật chuyên ngành tạo thành hệ thống pháp luật đồng bộ để quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

b) Trong Chương này, Luật quy định nhiều nội dung mới quan trọng như nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo, tham gia của cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo (Điều 6), Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam (Điều 7), các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 8). Trong đó ghi nhận các nguyên tắc, chế định rất mới như: quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo phải dựa trên tiếp cận hệ sinh thái, quyền tiếp cận của người dân với biển, nghiêm cấm các hoạt động trong hành lang bảo vệ bờ biển và trên quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm phải bảo vệ, bảo tồn.

2. Chương II. Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo

Chương này quy định cụ thể về nguyên tắc, căn cứ lập chiến lược. Quy định Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo được lập ở cấp quốc gia cho giai đoạn 20 năm, tầm nhìn 30 năm. Quy định rõ về các nội dung của chiến lược và quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện chiến lược.

Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan được giao chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển lập chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo và trình Chính phủ phê duyệt.

Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo phải được lấy ý kiến của cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình lập và phải được thẩm định trước khi phê duyệt.

Luật cũng quy định các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung chiến lược của ngành, địa phương có nội dung liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường cho phù hợp với chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

3. Chương III. Điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

a) Điều tra cơ bản (mục 1):

Công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là nhiệm vụ ưu tiên đã được khẳng định trong Nghị quyết của Đảng. Luật quy định các yêu cầu đối với hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; quy định về Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm điều phối các hoạt động điều tra cơ bản trên biển, bảo đảm sự phối hợp liên ngành, liên vùng trong quá trình tổ chức thực hiện; quy định rõ tiêu chí của các Dự án, đề án, nhiệm vụ điều tra cơ bản thuộc Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là: dự án, đề án, nhiệm vụ điều tra mang tính liên ngành, liên vùng, ở vùng biển sâu, biển xa và vùng biển quốc tế liền kề; điều tra cơ bản hải đảo, phát hiện nguồn tài nguyên mới, các dự án, đề án, nhiệm vụ điều tra cơ bản có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Luật quy định yêu cầu các Dự án, đề án, nhiệm vụ điều tra cơ bản không thuộc Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật; trước khi phê duyệt phải lấy ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường về sự cần thiết, đối tượng, phạm vi, nội dung điều tra, tính khả thi, hiệu quả; sau khi phê duyệt phải gửi quyết định phê duyệt và thông tin về vị trí, ranh giới, diện tích, tọa độ khu vực điều tra của dự án, đề án, nhiệm vụ về Bộ Tài nguyên và Môi trường. Việc thực hiện các nhiệm vụ, đề án, dự án điều tra cơ bản loại tài nguyên cụ thể được điều chỉnh bằng pháp luật chuyên ngành (pháp luật về tài nguyên nước, khoáng sản, dầu khí, thủy sản,…).

b) Nghiên cứu khoa học (mục 2):

Các hoạt động nghiên cứu khoa học, trong đó có nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo của các tổ chức, cá nhân trong nước đã được quy định cụ thể trong pháp luật về khoa học và công nghệ và pháp luật có liên quan. Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo tập trung quy định về Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm huy động nguồn lực quốc gia và sự tham gia của nhiều ngành khoa học và công nghệ để giải quyết các vấn đề liên ngành, lĩnh vực, liên vùng, quốc tế về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; định hướng cho hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; làm cơ sở lý luận để hoạch định chính sách, cơ chế nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Riêng việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam chưa được quy định trong Luật Khoa học và Công nghệ nên nội dung này được quy định cụ thể trong Luật. Luật đã quy định chi tiết, cụ thể, chặt chẽ về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam, phù hợp với Luật biển Việt Nam và Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển.

4. Chương IV. Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ

Vùng bờ là khu vực chuyển tiếp giữa đất liền hoặc đảo với biển, bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển. Vùng bờ là nơi có nhiều hệ sinh thái quan trọng, có sự tương tác giữa biển và đất liền mạnh nhất và là nơi tập trung nhiều hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, dễ phát sinh các xung đột, mâu thuẫn về lợi ích trong khai thác, sử dụng, đồng thời có tác động, ảnh hưởng mạnh nhất đến môi trường, hệ sinh thái biển. Do vậy, khu vực này cần được quản lý đặc biệt để duy trì và phát triển bền vững. Hầu hết các quốc gia có biển đều xác lập khu vực này và áp dụng các công cụ phù hợp để quản lý. Do đó, một trong những nội dung quan trọng được quy định trong Luật này là quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ với phạm vi không gian bao gồm vùng biển ven bờ và cả vùng đất ven biển.

– Phạm vi vùng bờ (Điều 22): tham khảo kinh nghiệm quốc tế và để phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng bờ của nước ta, Luật chỉ quy định nguyên tắc xác định phạm vi vùng bờ trong Luật và giao Chính phủ quy định cụ thể để phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng khu vực trong vùng bờ, đặc điểm quá trình tương tác giữa đất liền hoặc đảo với biển, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường vùng bờ, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng đang ngày càng diễn biến phức tạp và một số đặc điểm khác ở khu vực vùng bờ để tổ chức quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ được linh hoạt, phù hợp với năng lực quản lý.

– Hành lang bảo vệ bờ biển (Điều 23): quy định hành lang bảo vệ bờ biển lần đầu tiên được luật hóa; hành lang bảo vệ bờ biển là dải đất ven biển được thiết lập ở những khu vực cần bảo vệ hệ sinh thái, duy trì giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên ở vùng bờ; giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển.

Luật đã quy định rõ yêu cầu, mục tiêu, nguyên tắc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển; quy định về chiều rộng hành lang bảo vệ bờ biển. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển tổ chức thiết lập, công bố và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý. Quy định này nhằm bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện, bảo đảm hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập sát với tình hình thực tế tại địa phương về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên ở vùng đất ven biển. Luật cũng quy định cụ thể các hoạt động bị nghiêm cấm, các hoạt động bị hạn chế trong hành lang bảo vệ bờ biển.

Mực nước triều cao trung bình nhiều năm dùng để xác định hành lang bảo vệ bờ biển được tính theo chu kỳ triều thiên văn (18,6 năm) ở những nơi được quan trắc liên tục, ổn định; đối với những nơi chưa đủ điều kiện quan trắc, bờ biển có nhiều biến động, mực nước triều cao trung bình trong nhiều năm sẽ được tính toán cụ thể bằng các phương pháp thích hợp.

– Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ là công cụ quan trọng để thực hiện quản lý tổng hợp vùng bờ hiệu quả nhằm bảo đảm hài hòa giữa nhu cầu khai thác, sử dụng và yêu cầu bảo vệ tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái; hài hòa lợi ích ngắn hạn và dài hạn của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên với lợi ích của nhà nước và cộng đồng; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển. Luật đã quy định rõ nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch; phạm vi, nội dung, kỳ quy hoạch; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch… Đặc biệt, Luật quy định rõ mối quan hệ giữa quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ với các quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên, quy hoạch phát triển ngành, địa phương và nguyên tắc phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ (Điều 26).

– Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ gồm các chương trình có phạm vi liên tỉnh và các chương trình trong phạm vi quản lý của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển; được lập cho khu vực vùng bờ trong các trường hợp: tập trung nhiều hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên và có mâu thuẫn, xung đột hoặc nguy cơ mâu thuẫn, xung đột về lợi ích trong khai thác, sử dụng tài nguyên cần sự phối hợp tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành và cộng đồng để giải quyết; tài nguyên, giá trị các hệ sinh thái của khu vực vùng bờ có nguy cơ bị suy giảm nghiêm trọng do hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên; là vùng rủi ro ô nhiễm cao hoặc rất cao; có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu, nước biển dâng (Điều 34). Luật cũng quy định cụ thể về nguyên tắc, căn cứ lập, điều chỉnh chương trình; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh chương trình; tổ chức thực hiện chương trình…

5. Chương V. Quản lý tài nguyên hải đảo

Luật yêu cầu hải đảo phải được điều tra cơ bản, đánh giá tổng thể, toàn diện về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường; thống kê, phân loại để lập hồ sơ và định hướng khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; bảo đảm hài hòa giữa nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên và yêu cầu bảo tồn, phát triển và bảo vệ môi trường, hệ sinh thái (Điều 39).

Luật quy định cụ thể hồ sơ tài nguyên hải đảo gồm:

– Phiếu trích yếu thông tin gồm: tên hoặc số hiệu hải đảo; loại hải đảo; vị trí, tọa độ, diện tích; quá trình khai thác, sử dụng hải đảo;

– Bản đồ thể hiện rõ vị trí, tọa độ, ranh giới hải đảo;

– Kết quả điều tra, đánh giá tổng hợp tài nguyên, môi trường hải đảo;

– Sổ thống kê, theo dõi biến động tài nguyên, môi trường hải đảo và các thông tin khác có liên quan.

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển có trách nhiệm lập và quản lý hồ sơ tài nguyên hải đảo trong phạm vi địa phương.

Hải đảo được phân loại để bảo vệ, bảo tồn và khai thác, sử dụng tài nguyên. Theo đó, Luật quy định cụ thể các hoạt động bị nghiêm cấm đối với quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm phải bảo vệ, bảo tồn (khoản 2, 4 Điều 41).

Việc khai thác, sử dụng tài nguyên đối với quần đảo, đảo được thực hiện như đối với việc khai thác, sử dụng tài nguyên trên đất liền theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên đối với bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của Luật này, pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (khoản 1, 3 Điều 41).

6. Chương VI. Kiểm soát ô nhiễm, ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc và nhận chìm ở biển

a) Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (mục 1):

Luật quy định về nguyên tắc, nội dung kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; trách nhiệm điều tra, đánh giá môi trường biển và hải đảo; quy định cụ thể việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ các hoạt động trên biển, từ đất liền và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển xuyên biên giới. Đặc biệt, Luật quy định các công cụ, biện pháp để kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, cấp rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo) và đánh giá kết quả hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo.

Rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo được phân thành các cấp. Cấp rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo là cơ sở đề ra các giải pháp hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo. Vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo được phân thành các cấp: Vùng rủi ro ô nhiễm thấp; Vùng rủi ro ô nhiễm trung bình; Vùng rủi ro ô nhiễm cao; Vùng rủi ro ô nhiễm rất cao.                                                                                                                                                            

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển lập bản đồ phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

b) Ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển (mục 2):

Sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển là sự cố môi trường. Luật bảo vệ môi trường 2014 đã có riêng 1 mục (Mục 3 Chương X) quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục và xử lý sự cố môi trường. Tại khoản 8 Điều 52 Luật đã quy định “Việc phòng ngừa, khắc phục, xử lý sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật khác có liên quan”. Luật này chỉ quy định chi tiết một số vấn đề đặc thù trong ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển như: phân cấp ứng phó sự cố; xác định và thông báo khu vực hạn chế hoạt động; tạm đình chỉ hoạt động đối với cơ sở gây sự cố; trách nhiệm trong ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển… và giao Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.

c) Nhận chìm ở biển (mục 3):

Nhận chìm ở biển là một trong những chế định mới được quy định cụ thể trong Luật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với các điều ước quốc tế về vấn đề này. Nhận chìm ở biển là sự đánh chìm hoặc trút bỏ có chủ định xuống biển các vật, chất được nhận chìm ở biển theo quy định của Luật này.

Để bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường biển, Luật quy định khu vực biển được sử dụng để nhận chìm phải tuân thủ quy hoạch sử dụng biển, quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; quy định cụ thể về điều kiện vật, chất được nhận chìm ở biển và giao Chính phủ quy định Danh mục vật, chất được nhận chìm ở biển. Luật cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép nhận chìm ở biển; quy định về kiểm soát hoạt động nhận chìm ở biển.

Về thẩm quyền cấp Giấy phép nhận chìm ở biển: Luật đã quy định phân cấp thẩm quyền cấp Giấy phép nhận chìm ở biển cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển được cấp phép nhận chìm ở khu vực biển ven bờ; các khu vực khác giao Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép.

Tổ chức, cá nhân có vật, chất thuộc Danh mục vật, chất được nhận chìm ở biển đáp ứng đủ điều kiện theo quy định sẽ được xem xét, thẩm định, cấp Giấy phép nhận chìm ở biển. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm soát chặt chẽ quá trình hoạt động nhận chìm ở biển theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan. Luật không quy định điều kiện đối với tổ chức, cá nhân được phép nhận chìm ở biển để tránh phát sinh các thủ tục hành chính, hạn chế quyền kinh doanh của tổ chức, cá nhân, phù hợp với quy định của Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp.

7. Chương VII. Quan trắc, giám sát tổng hợp và hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

a) Quan trắc, giám sát tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (mục 1):

Quan trắc, giám sát tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là quá trình theo dõi có hệ thống về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, các yếu tố tác động đến tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm cung cấp thông tin, đánh giá hiện trạng diễn biến tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và dự báo, cảnh báo các tác động xấu đối với tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Quan trắc, giám sát tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được tiến hành thường xuyên, toàn diện phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được thiết lập đồng bộ, tiên tiến, hiện đại để bảo đảm thu thập đầy đủ, kịp thời thông tin, dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; bảo đảm kết nối với hoạt động quan trắc, giám sát tài nguyên, môi trường biển và hải đảo của khu vực và thế giới.

Hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được thiết lập trên cơ sở kết nối các hệ thống quan trắc, giám sát tài nguyên, môi trường biển và hải đảo của bộ, ngành, địa phương; là một hệ thống mở, kết nối và chia sẻ thông tin bảo đảm thông suốt từ Trung ương đến địa phương.

b) Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (mục 2):

Hệ thống thông tin tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được thiết kế tổng thể và xây dựng thành hệ thống thống nhất trong phạm vi cả nước, phục vụ đa mục tiêu, theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quốc tế được công nhận tại Việt Nam.

Cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quốc gia là tập hợp thống nhất toàn bộ dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong phạm vi cả nước được chuẩn hóa theo chuẩn quốc gia, được số hóa để cập nhật, quản lý, khai thác bằng hệ thống công nghệ thông tin.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quốc gia.

Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm điều tra, thu thập dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo của bộ, ngành, địa phương; cung cấp dữ liệu cho Bộ Tài nguyên và Môi trường để xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quốc gia.

Cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được chuẩn hóa theo chuẩn quốc gia trên cơ sở tích hợp cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo từ các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển. Dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được trao đổi, chia sẻ giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển.

8. Chương VIII. Hợp tác quốc tế về tài nguyên môi trường biển và hải đảo

Chương này quy định về các nguyên tắc hợp tác quốc tế về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; quy định cụ thể các hoạt động hợp tác quốc tế về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo với các nước, các tổ chức nước ngoài và quy định Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối tổng hợp hoạt động hợp tác quốc tế về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hoạt động hợp tác quốc tế về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có trách nhiệm hằng năm đánh giá tình hình hoạt động hợp tác quốc tế của cơ quan mình, gửi báo cáo về Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

9. Chương IX. Trách nhiệm quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo

Trách nhiệm cụ thể của các Bộ, ngành trong quản lý, khai thác, bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo đối với các loại tài nguyên cụ thể đã được quy định và thực hiện theo pháp luật chuyên ngành (như pháp luật về thủy sản, khoáng sản, dầu khí, du lịch…); trách nhiệm bảo vệ môi trường biển cũng được quy định trong pháp luật bảo vệ môi trường. Luật này chỉ tập trung quy định về các công cụ, cơ chế, chính sách điều phối, phối hợp liên ngành, liên vùng; giao Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo để bảo đảm yêu cầu của công tác quản lý tổng hợp. Đồng thời, tại Điều 76 của Luật đã quy định về nguyên tắc, nội dung phối hợp trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo và giao Chính phủ quy định cụ thể cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Chính phủ sẽ quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, ngành trong hoạt động này.

10. Chương X. Điều khoản thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Riêng đối với quy định tại Khoản 1 Điều 79, Luật quy định kể từ thời điểm Luật này được công bố (ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng, không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100 m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau đây:

a) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa;

b) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan Trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư;

c) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

Đồng thời, Luật quy định trong thời hạn 18 tháng kể từ thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý.

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định các quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên của ngành, địa phương, quy hoạch phát triển ngành, địa phương được tiếp tục thực hiện cho đến khi được rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển; quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ đã được phê duyệt.

 

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Để Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhanh chóng đi vào cuộc sống, sớm phát huy hiệu quả, cần thực hiện một số việc như sau:

1. Xây dựng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật

Để đảm bảo thi hành Luật từ ngày 01/7/2016, theo dự kiến cần xây dựng, ban hành các văn bản sau:

a) Chính phủ ban hành các Nghị định quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật, gồm:

(i) Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quy định chi tiết về các nội dung: Lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo (Khoản 3 Điều 11); Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Khoản 4 Điều 14); Phạm vi vùng bờ (Khoản 2 Điều 22); hành lang bảo vệ bờ biển (Khoản 5 Điều 23); Các hoạt động bị hạn chế trong hành lang bảo vệ bờ biển (Khoản 2 Điều 25); Lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ (Khoản 3 Điều 29); Lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ (Khoản 4 Điều 36); phân loại hải đảo để bảo vệ, bảo tồn và khai thác, sử dụng tài nguyên (Khoản 1 Điều 40); việc xác định và thông báo về khu vực hạn chế hoạt động để ưu tiên cho hoạt động cứu hộ, cứu nạn, ứng phó sự cố (Khoản 3 Điều 54); Danh mục vật, chất được nhận chìm ở biển (Khoản 2 Điều 58); việc cấp, cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cho phép trả lại, thu hồi Giấy phép nhận chìm ở biển (Khoản 4 Điều 60); cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo (Khoản 3 Điều 76).

(ii) Nghị định quy định chi tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam (Khoản 4 Điều 19 của Luật).

b) Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển (Khoản 2 Điều 56).

c) Các bộ, ngành cần ban hành các văn bản:

– Quy định chi tiết về hồ sơ tài nguyên hải đảo, hướng dẫn việc lập và quản lý hồ sơ tài nguyên hải đảo (Khoản 4 Điều 40);

– Hướng dẫn phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (Khoản 2 Điều 48);

– Quy định chi tiết tiêu chí phân cấp vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (Khoản 4 Điều 49);

– Quy định chi tiết bộ chỉ số và việc đánh giá kết quả hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo (Khoản 4 Điều 50);

– Quy định về việc xây dựng, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Khoản 3 Điều 68 và Khoản 3 Điều 69);

– Quy định cụ thể về thẩm quyền cung cấp, phạm vi, mức độ, đối tượng được khai thác, sử dụng dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Khoản 3 Điều 69);

– Hướng dẫn việc thu, nộp, sử dụng phí khai thác, sử dụng dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Khoản 4 Điều 69).

– Hướng dẫn việc thiết lập và bảo vệ hành lang bảo vệ bờ biển (Khoản 2 Điều 73);

– Quy định chi tiết nội dung, thể thức, thời điểm báo cáo về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo (Khoản 4 Điều 77); quy định việc báo cáo về hiện trạng xử lý và xả chất thải ra biển của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên vùng đất ven biển và trên hải đảo (Khoản 3 Điều 46).

2. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật

Công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật cần được chú trọng, triển khai thông qua các hình thức sau:

– Tổ chức Hội nghị triển khai, quán triệt các nội dung cơ bản của Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

– Tổ chức giới thiệu, phổ biến Luật bằng các hình thức phù hợp: biên soạn, phát hành các tài liệu phổ biến, giới thiệu Luật; phối hợp với các cơ quan báo chí tổ chức thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến nội dung của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành.

– Các hình thức khác phù hợp với tình hình, đặc điểm và điều kiện của các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp.

Trong đó các nội dung được tập trung:

– Đối với người dân, doanh nghiệp: tuyên truyền về Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, các hành vi bị nghiêm cấm trong thực hiện các hoạt động liên quan tới tài nguyên biển và hải đảo; sự tham gia của cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;

– Đối với cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động trên biển, hải đảo: tuyên truyền về Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, các hành vi bị nghiêm cấm trong thực hiện các hoạt động liên quan tới tài nguyên biển và hải đảo; quy định về hành lang bảo vệ bờ biển; quy định về kiểm soát ô nhiễm, ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc và nhận chìm ở biển;

– Đối với cán bộ, công chức cơ quan quản lý vấn đề tài nguyên, môi trường: tuyên truyền các quy định liên quan tới quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

3. Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung chiến lược của ngành, địa phương có nội dung liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường cho phù hợp với chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; rà soát, đề xuất, sửa đổi, bổ sung quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên, quy hoạch phát triển ngành, địa phương có nội dung liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ cho phù hợp với quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ đã được phê duyệt.

4. Về hành lang bảo vệ bờ biển

Kể từ thời điểm Luật này được công bố (ngày 08/7/2015), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển có trách nhiệm xác định đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường để xác định khu vực cần phải giữ nguyên hiện trạng, không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100 m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật.

Trong thời hạn 18 tháng kể từ thời điểm Luật có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý.

5. Bảo đảm điều kiện về kinh phí, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cho hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo./.

>>>>>> Bài viết đáng quan tâm khác: Dịch vụ tư vấn thường xuyên được cung cấp bởi Vinalaw

——————–
𝑪𝒐̂𝒏𝒈 𝒕𝒚 𝑳𝒖𝒂̣̂𝒕 𝒉𝒐̛̣𝒑 𝒅𝒂𝒏𝒉 𝑽𝒊𝒆̣̂𝒕 𝑵𝒂𝒎 (𝑽𝒊𝒏𝒂𝒍𝒂𝒘 𝑭𝒊𝒓𝒎)

Với slogan: “Là điểm tựa của niềm tin”

??Phương châm làm việc: “Đừng bận tâm vì các vấn đề pháp lý của Quý khách hàng chính là công việc của chúng tôi”.
??Vinalaw luôn hoạt động với tôn chỉ đề cao pháp luật, uy tín, trung thực, bảo đảm lợi ích cao nhất của khách hàng trước pháp luật.
———————–
? 028.629.119.20 (Liên hệ tư vấn miễn phí)
———————–
? Số 17 Trần Khánh Dư, Phường Tân Định, Quận 1, Hồ Chí Minh.
? 𝑭𝒂𝒄𝒆𝒃𝒐𝒐𝒌: fb.com/Vinalaw.vn
? 𝑾𝒆𝒃𝒔𝒊𝒕𝒆: www.vinalaw.vn
? 𝑬𝒎𝒂𝒊𝒍: info@vinalaw.vn